23-08-2026 - 00:38

Truyện ký VỀ NHÀ của Nguyễn Trung Tuyến

Tạp chí Hồng Lĩnh số 238+239 giới thiệu Truyện ký “Về nhà” của tác giả Nguyễn Trung Tuyến

Năm 1972, lần thứ hai đế quốc Mỹ leo thang ném bom miền Bắc. Đâu không biết, riêng quê tôi thì cuộc chiến lần này tàn khốc hơn so với cuộc leo thang trước đó (1965-1968). Còn nhớ, hồi đó hình như có loại bom, đại bác nào thì Mỹ đều mang sang dội xuống nước ta. Mỗi ngày đêm, thành phố Vinh phải hứng chịu hàng chục trận oanh kích, nhiều lần đếm được trên bầu trời có đến 150 chiếc máy bay cùng lúc dội bom xuống thành phố. Chúng thả xuống sông Lam vô số ngư lôi bom từ trường nên trên sông, trên bến đò hay cả đôi bờ  tịnh vắng bóng người. Bao năm đã qua tôi vẫn nhớ tiếng kêu của mẹ: "B52! Xuống hầm mau!". Kệ! Ba anh em vẫn ngửa mặt lên trời dõi nhìn và đếm những tốp máy bay B52. Nhiều tốp. Mỗi tốp 3 chiếc. Chúng bay theo hình mũi tên. Sau đuôi mỗi chiếc B52 phun ra năm dải khói trắng khổng lồ cuồn cuộn cùng âm thanh ầm ầm chuyển động cả bầu trời chết chóc. Có kinh nghiệm nên chúng tôi biết máy bay chỉ bay qua đầu thôi, chúng mang bom đổ xuống bên Vinh. Chẳng sợ. Mà sự thật thì anh em chúng tôi cũng chẳng biết sợ bom đạn, chẳng biết sợ cái chết là gì.

Những năm tháng ấu thơ ấy, mẹ nuôi chú Tám Him, chú làm nghề thầy bói. Chú Tám Him có đôi mắt nhỏ tí luôn hấp háy như lúc nào cũng cố đẩy hạt cát, hạt bụi gì đó chui vào mắt. Dáng chú gầy gò, tay chân lòng khòng. Chú rất thích diễn tuồng nhưng chỉ đóng được mỗi vai Thoát Hoan trong vở tuồng Trần Bình Trọng. Chú thường tự diễn một mình. Khán giả chỉ vài ba đứa trẻ trong xóm. Diễn mãi một tích ấy nên bọn trẻ xem lắm cũng chán. Để thu hút và lấy lòng bọn trẻ, bắt đầu vào trò chú thường nói một câu như vẹt: “Thoát Hoan bắt đầu ra dạo ba vòng”. Những khi đang diễn mà quên lời thoại thì chú lại uốn éo mấy ngón tay vốn dĩ khi nào cũng vân vê vào nhau như đang mằn mò cái gì đó. Nhớ, có lần “Thoát Hoan” cao hứng “ngựa chạy ba năm quất một roi” thì đầu chú va vào cột nhà ngã lăn quay, bọn trẻ cười ngặt nghẽo.

Chú làm nghề thầy bói cũng chỉ cốt kiếm bữa cơm của mẹ. Bữa ăn nào mà tay chú vân vê bắt quyết rồi nói: "Chị sắp có điều mừng" thì ngày đó mẹ tươi vui như phục sinh, nói cười rạng rỡ như ăn mày gặp vận may được của. Thế nhưng bữa nào chú nói: "Tháng này chị phải kiêng dè dẫm gai" thì ngày đó lòng mẹ u ẩn, buồn thiu, trĩu nặng, làm việc gì cũng nhớ trước quên sau như thất thần. Hễ thấy mẹ buồn là ba anh em tôi ghét chú - “Cái lão Tám Him đúng là đồ... sao Chổi”. Nói với mẹ đừng tin những lời bói toán vu vơ ba hoa xích đế thì mẹ gạt đi: "Sao các con lại ghét bỏ chú ấy? Mấy đứa anh của các con trong chiến trường số phận đang treo nơi đầu tên hòn đạn, lâu rồi bặt tin, không biết sống chết thế nào. Mẹ chỉ còn biết mong tin các anh từ lời bói toán của chú ấy. Đúng hay sai gì cũng đừng ghét người ta. Không có chú ấy mách bảo điềm lành điềm dữ của mấy đứa trong nam thì làm sao mẹ sống nổi?". 

Lớn lên tôi mới nhận ra lời bói toán của chú Tám Him ngày đó là liệu pháp tinh thần an ủi, vỗ về, cảnh giác, phòng thân của mẹ.

Đêm, ai cũng ngủ dưới hầm. Trong hầm, mùi meo chua chua hăng hắc, âm âm hơi đất, mùi rễ, lá cây mục rữa. Nước từ vách hầm rỉ ra đến đâu thì rễ tre ngoằn ngoèo bò theo. Thứ nước ấy gây ngứa ngáy rất khó chịu. Mấy đứa trẻ con soi mói vách hầm lần bẻ từng chiếc rễ trắng như sợi giá ấy với niềm tin ngây thơ rằng bẻ hết rễ tre thì nước không rỉ ra được nữa. Bác Tấu- bác dâu tộc trưởng học được ở đâu sáng kiến là tối đến thì dùng lá xoan xông khói trong hầm để đuổi muỗi, rắn, rết, kiến càng, bọ cạp... Rồi lại lấy lá cỏ lăn, loại cỏ lá dài như lá mía nhưng nhỏ, ngắn hơn, mép lá có nhiều gai li ti nhọn sắc- cỏ lăn để tươi được lâu buộc lại thành bó treo ở vách hầm. Ai cũng làm theo nhưng hết mùi khói thì muỗi lại vo ve không thể nào hết được. Có đêm, mẹ thức đập cỏ lăn loạn xạ đuổi muỗi đến nỗi khi ngủ thiếp đi trên tay vẫn cầm bó cỏ lăn phe phẩy.

Đêm đêm, nằm trong hầm vẫn không được yên. Mỗi khi nghe tiếng pháo kích: “Đùng đùng... đoàng…” là phải ngóc dậy nghe ngóng, phòng khi pháo kích chuyển làn thì dắt díu nhau chạy sơ tán. Cùng pháo kích thì máy bay thả pháo sáng sáng như ban ngày rồi dội bom xuống. Cứ thế, suốt đêm lo thon thót. Góc hầm sẵn túi gạo rang, khoai deo, túi bông băng thuốc đỏ, có lệnh sơ tán thì mẹ con đội hầm dậy chạy. 

Lại có đêm mẹ giật mình hốt hoảng ngồi bật dậy. Tôi hỏi: Gì thế? Mẹ!. Mẹ trả lời: Mơ thấy thằng Đằng... Rồi mẹ lại trấn an: “Điềm báo trong mơ thường là sinh dữ, tử lành. Có lẽ thằng Đằng không sao”. Rồi mẹ nhắc tôi: “Con ngủ đi!". Mẹ thì dựa lưng vào vách hầm ngoẹo đầu oặt xuống mệt mỏi như người mất hết cả hồn vía. Tôi đoán, có lẽ mẹ đã mơ thấy điềm gì đó rất khủng khiếp về anh Đằng. Giấc mơ khiến mẹ kiệt sức.

Minh họa: LÊ ANH

Còn nhớ, một đêm bốn mẹ con vừa lao vào hầm thì máy bay thả bom bi. Sau tiếng nổ “bụp” trên đầu là hàng trăm quả bom bi tung ra. Khoan xoáy vào không gian mang theo cái chết  rung chuyển, trời đêm rạn vỡ. Đúng lúc đó thì một người đàn ông to lớn lao vào hầm của mấy mẹ con chúng tôi. Khi loạt bom bi đầu tiên vừa dứt, tôi để ý thấy trên tay người hộ pháp ấy có vật gì phát sáng rất lạ. Tò mò, tôi hỏi: "Cái gì sáng xanh trên tay chú đó?". Người đàn ông to lớn ấy không trả lời mà vội lao ra khỏi hầm. Trận bom ấy nhiều chú lái xe cùng nhiều người trong làng bị chết. Nhiều xe ô tô của các đoàn 264, 266, 268 cùng các nhà trong làng cháy rụi. Vội vã lo chôn cất người chết, đưa người bị thương đi cấp cứu xong, bà con trở về vớt vát chút gì còn sót sau trận bom. Sau này mẹ con tôi mới biết đó là ánh sáng của chiếc đồng hồ dạ quang hắn đeo trên tay. Hắn đích thị là thằng gián điệp, chỉ điểm. Nếu đêm ấy vì sợ lộ tung tích mà hắn giết luôn cả bốn mẹ con trong hầm thì chắc cũng không ai biết!

Những đêm dài chập chờn đan xen giữa mộng mị và cảnh giác với cái chết bất ngờ ập đến không hẹn trước nên ai cũng đói ngủ. Để chống lại buồn ngủ, mẹ kể chuyện cho ba đứa nghe. Trí nhớ của mẹ thật kỳ lạ. Mẹ kể không bao giờ hết chuyện. Mẹ thuộc lòng hầu hết những tác phẩm thơ Nôm như:  “Truyện Kiều”; “Tống Trân - Cúc Hoa”; “ Phạm Tải - Ngọc Hoa”; “Chinh phụ ngâm”;  “Hoàng Trừu”; “Nhị độ mai”; “Mã Long- Mã Phượng”; “Cung oán ngâm khúc”… Mẹ đọc thơ rồi diễn xuôi thơ thành lời tự sự, mẹ giảng giải từng điển tích thông thuộc như là từ trong những dòng thơ, mẹ bước ra vậy. Những thân phận thấp bé khổ đau phải chịu đựng oan nghiệt, trái ngang hiện lên qua lời kể ầng ậng nước mắt của mẹ. Mấy đứa nằm sau lưng nghe mẹ kể thỉnh thoảng khóc rung rúc.

Tôi quờ tay lưng mẹ, hỏi:

- Sao mẹ biết được nhiều chuyện thế?

Mẹ nói: 

- Ngày còn sống, đêm đêm cha thường đọc và giảng giải các tích ấy cho mẹ nghe thế rồi mẹ nhớ nhập tâm. 

Tôi thì quả quyết rằng - trước khi qua đời, cha đã dấu sự sống của cha trong những áng thơ Nôm ấy trao cho mẹ phòng khi tuyệt vọng khổ đau thì mẹ vịn câu thơ mà đứng dậy.

Hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ nhà tôi có năm người tham gia bộ đội.

Nhớ, có đêm mẹ kể: 

Mới sinh được đứa thứ ba thì cha đi bộ đội chống Pháp. Sau mấy tháng huấn luyện, cha bị ốm nặng nằm điều trị ở nhà thương Lam Kiều. Nếu theo con đường đi tắt qua Trẹm xuyên qua dãy Ngàn Hống đến Trại Đưng thì nhà thương Lam Kiều đóng ở đó.

Một buổi chiều nhá nhem, cố Hà báo cho mẹ biết tin dữ ấy. Đêm khuya, chờ ba đứa ngủ say, mẹ lót quây tròn ba đứa trong ổ rơm rồi chạy vào Trại Đưng thăm cha. 

Con đường từ Nghi Xuân đến Trại Đưng khoảng ba mươi ki lô mét. Mẹ len lỏi một mình trong đêm giữa non ngàn Hồng Lĩnh trập trùng núi đèo khe suối hiểm trở ẩn dấu bao bất trắc rình rập đe dọa từng bước chân của mẹ. 

Hình dung con đường đi mẹ thăm cha, tôi băn khoăn hỏi:

- Tính cả đi lẫn về sáu mươi ki lô mét. Trong đêm làm sao mẹ đi được quãng đường dài như thế?

Mẹ nói:

- Thì biết làm sao! Đành phó mặc cho số phận. Mẹ vừa đi vừa chạy, con à! Mẹ phải về sớm cho kịp phiên chợ sáng.

Mẹ kể tiếp:

- Thế rồi ở bệnh viện Lam Kiều ai cũng biết chuyện trong đêm mẹ vượt núi băng ngàn đến bệnh viện chăm cha. Thấy tình cảnh của mẹ như vậy nên ai cũng thương. Đêm ấy bác sĩ quyết định cho cha xuất viện. Bác sĩ nói với mẹ: “Anh bị bệnh sốt rét và suy nhược cơ thể. Sức khỏe thế này thì không đảm bảo ra chiến trường được nữa. Bệnh viện cho anh xuất ngũ. Chị cầm giấy xuất viện rồi đưa anh về nhà tiếp tục điều trị nhé!”. Cầm giấy ra viện, mẹ mừng quá. Đến giờ mẹ vẫn ân hận sao khi đó không có một chút quà tạ ơn người làm phúc cho mình. Về nhà, thuốc thang tẩm bổ tuy không có đủ người cha vẫn gầy xanh như tàu lá nhưng đêm đêm cha vẫn thức với mẹ. Hồi đó mẹ làm hàng xáo phải thức suốt đêm xay giã dần sàng để có hàng kịp sáng đi chợ. Cha nằm trên võng đọc, giảng giải những chuyện thơ Nôm ấy mẹ nghe cho quên buồn ngủ.

Kháng chiến chống Mỹ, nhà tôi có bốn anh đi bộ đội. 

Mẹ nói:

- Hồi trước cha đi bộ đội, khi ốm đau thì mẹ còn được chạy đi chạy lại chăm cha rồi được đón cha về. Bằng nay trên bom dưới đạn thì cả bốn đứa lại xa tít ở tận trong Nam, không biết mỗi đứa ở một nơi chân trời góc biển nào. Mẹ biết làm sao chạy vào che chắn cho các con được. Đành gửi cả ruột gan vào nơi các con. Mẹ ngày đêm cầu Trời khấn Phật mong các con chân cứng đá mềm, các con tránh được bom rơi đạn lạc, mong thanh bình các con về với mẹ.

Đêm đêm trong hầm tránh bom, ba anh nghe mẹ kể những chuyện đời gian khó gieo neo, những chuyện thơ chứa đầy nước mắt cùng nỗi ám ảnh còn mãi trong tôi là tiếng kêu của mẹ. Cho đến bây giờ, nhiều đêm trong xương cốt vẫn âm vang lên tiếng kêu bất lực, đau thương của người mẹ yếu đuối trong không gian tàn khốc ngày thơ dại ấy. Cứ mỗi loạt bom Mỹ dội xuống thì mẹ lại run rẩy kêu lên. "Hồ ơi! Con xuống hầm chưa?". "Đằng ơi! Con xuống hầm đi! ". "Lĩnh ơi! Con xuống hầm mau!... Con ơi!... Các con ơi!".

Mặc mẹ gọi các anh tôi đến lạc giọng, bom Mỹ vẫn dồn dập trút xuống suốt đêm này sang đêm khác như thể chúng cố hủy diệt bằng được chúng tôi. Tiếng kêu phát ra từ tận cùng gan ruột đau thương nối đêm này qua đêm khác làm mẹ kiệt sức. Tôi nhìn thấy rõ những dấu khắc thời gian trên vách hầm ngày một dài hơn để nhớ ngày các anh tôi đi xa.

Tưởng như tiếng bom tàn nhẫn sẽ vùi dập được tiếng kêu xé lòng, đau đớn, sợ hãi, yếu đuối của mẹ. Nhưng những lúc đó, nép trong ngực mẹ tôi lại cảm giác tiếng bom chỉ làm cho tiếng mẹ gọi các anh càng tha thiết, giục giã hơn, thiêng liêng hơn. Tôi cảm nhận được ở ngoài chiến trường các anh cũng nghe được tiếng gọi thiêng của mẹ. Chắc cũng nhờ thế mà kết thúc chiến tranh, đất nước thanh bình thì bốn ông anh đều lành lặn về được đến nhà. Những buổi đoàn viên mừng mừng tủi tủi, các anh đều xác nhận - nhiều khi, bên cái chết cận kề các anh nghe rất rõ tiếng gọi con của mẹ. Anh Đằng, người anh thứ ba, kể - Anh thuộc binh đoàn 559, suốt sáu năm sống giữa đại ngàn. Giữ bí mật cho đường Trường Sơn nên ngần ấy năm không liên lạc được về nhà. Có lần anh bị sốt rét ác tính tưởng không sống được. Bác sĩ dùng panh kẹp đứt môi   xác nhận xem còn phản xạ nữa không. Bác sĩ buồn bã lắc đầu: “Thôi rồi!”. Đồng đội khiêng anh xuống nhà xác. Trong mơ màng, anh nghe mẹ gọi: “Đằng ơi!”. Anh tỉnh lại và đã anh trở về.

Ngày ấy, tôi tính ngày bằng dùng que vạch lên vách hầm, mỗi ngày một vạch. Thế rồi nước mưa rửa trôi nên không buồn vạch nữa.                   

                                  N.T.T

. . . . .
Loading the player...