21-08-2026 - 01:04

Tản văn Rủ nhau xem cảnh Kiếm hồ của nhà thơ Trần Nam Phong

Mỗi lần được đến Thủ đô, như một thói quen, tôi lại tìm về Hồ Gươm với một cảm thức vừa quen vừa lạ, thành kính tự hào và lòng biết ơn thầm lặng. Ngước lên Tháp Bút với dòng đại tự “Tả Thanh Thiên” (viết lên trời xanh), bái vọng trước đền Ngọc Sơn, nơi thờ thần Văn Xương Đế quân (chủ về văn chương khoa cử) và thờ đức thánh Trần Hưng Đạo. Nơi đây, dấu ấn thiên nhiên và con người hòa quyện trong nét văn hóa tâm linh, thức tỉnh ý thức tự hào về truyền thống võ công, văn trị và sự trường tồn của dân tộc. Tạp chí Hồng Lĩnh số 238+239 giới thiệu tản văn “Rủ nhau xem cảnh Kiếm hồ” của nhà thơ Trần Nam Phong.

Mùa thu năm 1976, lần đầu tiên tôi được đến Hà Nội. Chú ruột tôi là bộ đội phục viên chuẩn bị chuyển ngành từ miền Nam ra đưa ông nội đi thăm con gái là O tôi làm việc ở Công ty dược phẩm Kiến An, Hải Phòng. Ông và chú cưng cháu, điều kiện đi lại khó khăn vẫn cho tôi đi theo. Trong trí nhớ cậu bé lên 7 tuổi chưa từng ra khỏi lũy tre làng khó mà hình dung lại toàn bộ chuyến đi ấy. Nhưng có một ấn tượng khó phai mờ về Hồ Gươm, cho dù lần ấy chỉ đi qua trong chốc lát.

Trí nhớ tôi còn lưu giữ giống như bức ảnh đen trắng về một khoảng nước ngăn ngắt soi bóng Tháp Rùa, cầu Thê Húc, đền Ngọc Sơn và ... que kem mát lạnh chú mua đâu đó quanh bờ hồ. Hà Nội lúc bấy giờ có tàu điện leng keng lạ mắt. Những chiếc xe đạp do những người đàn ông hay phụ nữ, dáng mảnh mai, mắt sáng trong xuôi ngược qua các con phố vừa ra khỏi chiến tranh chưa lâu nhưng vẫn giữ được vẻ thanh tao, trầm mặc. Và mọi ngả đường, với tôi, đều hướng đến Hồ Gươm.

Hồ Gươm mùa thu. Ảnh: Internet

Sau này, cứ có cơ hội ra Thủ đô, tôi lại tìm đến nơi đây. Quang cảnh Hồ Gươm đã nhiều đổi thay nhưng ấn tượng buổi đầu ấy không hề phai mờ. Vẫn hồi hộp pha chút tò mò, sự thành kính và tự hào đến lạ. Tôi thường tự vấn: Tại sao mình luôn lưu giữ kỷ niệm và cảm xúc này? Phải chăng Hà Nội là thủ đô, trái tim thiêng của cả nước. Hà Nội gắn liền vận mệnh dân tộc trong các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc. Hà Nội, Đông Đô, Thăng Long - biểu tượng ngàn năm văn hiến trường tồn như bản lĩnh văn hóa Việt. Hà Nội có Bác Hồ kính yêu mà cuộc đời và sự nghiệp của Người đã trở thành lương tri của nhân loại.

Nhưng ký ức tuổi thơ luôn có quy luật riêng. Ở đây chính là sự thẩm lắng văn hóa nhẹ nhàng, hồn nhiên qua tâm trí của một học trò nhà quê; qua chuyện kể, lời ru ông bà, cha mẹ và trường học. Tôi nghĩ ngay đến truyền thuyết Hồ Gươm với hình ảnh đức vua Lê Thái Tổ du ngoạn trên thuyền rồng rồi khoan thai nâng kiếm dâng trả cho Long quân. Rùa vàng đáp lễ, lui dần rồi lặn sâu xuống đáy hồ. Mặt nước xao động trong khi bình minh đang tỏa rạng. Đài Nghiên, Tháp Bút vươn lên trong nắng sớm...

Tôi nghĩ đến bài thơ về Hà Nội của thần đồng thơ Trần Đăng Khoa khi nhà thơ lên 8 tuổi, trong đó có 4 câu:

Hà Nội có Hồ Gươm

Nước xanh như pha mực

Bên hồ ngọn Tháp Bút

Viết thơ lên trời cao

Theo năm tháng lũ học trò quê mùa chúng tôi dần lớn khôn khi được các thầy cô dạy dỗ. Mỗi người có một hoàn cảnh và cách trưởng thành khác nhau. Tôi may mắn đến với bộ môn văn học từ nhỏ là do được các thầy cô dạy văn chăm chút qua từng cấp học và cũng có thể là do một sự thôi thúc nào đó từ bên trong nội tâm.

Tôi lại miên man nhớ đến những người thầy đã dày công dạy dỗ trong hoàn cảnh thời bao cấp thiếu thốn đủ bề: Thầy Trần Hành Sơn, Nguyễn Trung Tuyến thuở cấp II; thầy Vũ Xuân Hoàn, Nguyễn Tiến Chưởng, Nguyễn Tiến Bính khi lên cấp III. Thầy Bính cùng gia đình ở nội trú, có hẳn một tủ sách hàng trăm cuốn đông, tây kim cổ với nhiều đề tài, thể loại. Thỉnh thoảng bài kiểm tra văn của tôi được thầy Trần Trung Tự với giọng bắc trầm ấm đọc mẫu trước trường trong buổi lễ chào cờ. Tôi vẫn còn nhớ cảm giác xấu hổ của mình lúc ấy. Rồi chúng tôi được cử vào các đội tuyển chuẩn bị thi học sinh giỏi tỉnh Nghệ Tĩnh. Thầy Bính trực tiếp bồi dưỡng môn văn và công việc thường nhật của tôi vào các buổi chiều là đọc sách, làm đề. Các kỳ thi liên tiếp tôi đều đạt giải. Ngay kỳ thi tỉnh lần đầu đạt giải nhất. Tốt nghiệp cấp III văn đạt điểm 10. Nhưng điều tôi muốn nói ở đây là lối ra đề rất mới mẻ với những học trò trường lẻ như chúng tôi.

Đề thi văn lớp 10 (năm 1983): Tình yêu quê hương đất nước là nét nổi bật trong tình cảm dân ta. Hãy bình giảng một đoạn thơ hay một bài ca dao có nội dung trên mà em cho là thích nhất.

Đề thi văn lớp 11 (năm 1984): “Suy nghĩ của anh (chị) về câu nói của Ông già Bến Ngự: “Lịch sử của tôi là một trăm thất bại mà không một thành công”.

Và cái năm ấy, lớp 10 trên đất học Cẩm Bình, Cẩm Xuyên, nơi được chọn làm cụm thi của tỉnh Nghệ Tĩnh, tôi đã chọn viết về một bài ca dao mà sau này mới được biết tác giả là Á nam Trần Tuấn Khải. Bài thơ đã được dân gian hóa, truyền tụng lâu đời như một áng ca dao thực thụ với bao tình cảm tri ân, tự hào, vừa đài các vừa dân giã. Tôi viết say mê về bài ca bất hủ ấy, về dòng chảy cội nguồn dân tộc Việt Nam được hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước:

Rủ nhau xem cảnh Kiếm hồ

Xem cầu Thê Húc, xem đền Ngọc Sơn

Đài Nghiên, Tháp Bút chưa sờn

Hỏi ai gây dựng nên non nước này

Sau này, dù học thêm một số trường lớp, trải qua nhiều công việc khác nhau, tôi vẫn không nguôi quên những năm tháng đến với tình yêu văn chương thủa ấy. Tôi vẫn giữ thói quen sưu tầm và đọc sách của thầy Bính; lối phân tích, bình luận tác phẩm vừa khúc chiết vừa sâu sắc của thầy Hoàn và biết bao tình cảm, ân nghĩa trân quý của các thầy cô giáo.

Để rồi, mỗi lần được đến Thủ đô, như một thói quen, tôi lại tìm về Hồ Gươm với một cảm thức vừa quen vừa lạ, thành kính tự hào và lòng biết ơn thầm lặng. Ngước lên Tháp Bút với dòng đại tự “Tả Thanh Thiên” (viết lên trời xanh), bái vọng trước đền Ngọc Sơn, nơi thờ thần Văn Xương Đế quân (chủ về văn chương khoa cử) và thờ đức thánh Trần Hưng Đạo. Nơi đây, dấu ấn thiên nhiên và con người hòa quyện trong nét văn hóa tâm linh, thức tỉnh ý thức tự hào về truyền thống võ công, văn trị và sự trường tồn của dân tộc.

Địa danh lịch sử nổi tiếng này còn có các tên gọi cũ như Hồ Lục Thủy (nước xanh), Hồ Tả Vọng và Hồ Thủy Quân (nơi tập luyện thủy binh). Các tên gọi này gắn liền với các thời kỳ phát triển khác nhau của Thủ đô Hà Nội. Và đến bây giờ là cái tên Hồ Gươm (Hồ Hoàn Kiếm) thiêng liêng và tự hào, là trái tim của non sông đất Việt.

Hà Nội là thủ đô là trung tâm chính trị của Việt Nam, một địa danh lịch sử gắn với đau thương mất mát của chiến tranh và những mốc son không thể phai nhòa, trong đó Hồ Gươm còn mang trong mình lịch sử đấu tranh anh dũng của Nhân dân ta.

Thời gian vô biên, đời người hữu hạn nhưng đất nước sẽ mãi trường tồn. Chiều nay, chủ nhật đầu tiên của tháng Tám, tôi ngồi viết những dòng này hồi nhớ niềm yêu một thủa; lại nhớ những người bạn cùng thời đang sinh sống và làm việc ở Hà Nội mà con cháu của các bạn sẽ trở thành công dân của Thủ đô kiêu hãnh. Tìm đọc lịch sử Hồ Gươm, được biết xưa kia là một chi nhánh nối liền với sông Hồng. Ngấn nước phù sa thủa ấy còn đâu đó quanh bờ hồ nhắc ta về những tháng nắng ngày mưa trên châu thổ sông Hồng. Có một Hà Nội văn hóa - lịch sử và một Hà Nội nhân văn, hào hoa với bao vẻ đẹp mê hồn.  Sự kết hợp hoàn hảo giữa lịch sử và vẻ đẹp cổ điển lấp lánh thời gian, Hồ Hoàn Kiếm thực sự trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho các tác phẩm văn học nghệ thuật. Hồ Gươm không chỉ mang nét đẹp cổ kính mà còn thể hiện nét đẹp hiện đại, phản ánh sự phát triển vượt bậc của đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Một thoáng Hồ Gươm để ôn lại ký ức một thời đã trở thành hành trang của đời người. Tôi vội vàng mở mạng, tình cờ gặp bài hát yêu thích, bấm nút chia sẻ gửi ngay cho nhóm bạn mà chưa kịp nghĩ để làm gì:

“Tháng Tám mùa thu lá rơi vàng chưa nhỉ?

Từ độ người đi, thương nhớ âm thầm

...

Có phải em là mùa thu Hà Nội?

Tuổi phong sương ta cũng gắng đi tìm

Ơi mùa thu của ước mơ”

(Có phải em mùa thu Hà Nội - Thơ: Tô Như Châu; Nhạc: Trần Quang Lộc).

          T.N.P

. . . . .
Loading the player...