Trải qua hơn một nghìn năm lịch sử, các thế hệ cư dân nơi cửa biển đã bền bỉ vượt qua bao biến thiên, kiên cường bám biển, giữ làng; cần cù, sáng tạo trong lao động, biến những vùng đất hoang vu, bãi bồi ven sông, ven biển thành một làng quê trù phú, sầm uất và giàu sức sống. Những lớp trầm tích của lịch sử, văn hóa và đời sống cộng đồng đã làm nên bản sắc riêng của Cửa Nhượng - Thiên Cầm, đồng thời tạo nên một nguồn lực tinh thần quý giá cho hôm nay và mai sau. Tạp chí Hồng Lĩnh số 240 tháng 9/2026 giới thiệu bài viết “Từ Kỳ La đến Cửa Nhượng, Thiên Cầm: Những lớp trầm tích lịch sử” của tác giả Nguyễn Trọng Thanh
1. Cơ La - Kỳ La và Cửa Nhượng
Cửa Nhượng (hay Cửa Nhượng Bạn), tên xưa hơn là Kỳ La, Kỳ La hải khẩu, Kỳ La môn, là một trong bốn cửa biển của tỉnh Hà Tĩnh, dẫu khiêm tốn nằm trên đường thiên lý biển xuôi ngược Bắc - Nam nhưng đây là một địa danh nổi tiếng được nhắc đến nhiều trong thư tịch lịch sử, địa chí, bản đồ, tài liệu hàng hải và thơ ca. Ngày nay Cửa Nhượng hay xã Cẩm Nhượng là một phần cấu thành xã Thiên Cầm, nơi đây từng diễn ra nhiều sự kiện lịch sử mang tính chất bước ngoặt với cơ đồ của đất nước cũng như quê hương Hà Tĩnh.
Cửa biển này từng có nhiều tên gọi khác nhau: thời Tiền Lê gọi là Cơ La1; từ thời Lý, Trần đến cuối thời Hậu Lê (Lê - Trịnh) là Kỳ La (Kỳ La môn, Kỳ La hải khẩu); sau đó tên gọi Cửa Nhượng Bạn2 hoặc Cửa Nhượng3 thay thế và phổ biến cho đến ngày nay.
Về tên gọi Cơ La/Kỳ La, theo các nhà nghiên cứu đây là từ có nguồn gốc Hán - Việt, chữ “Kỳ” để ghi âm chữ “Kẻ”, chỉ một nhóm người nhất định, còn chữ “La” nghĩa là “Lưới”, chỉ một loại ngư cụ để đánh bắt tôm cá. Kỳ La còn mang một nghĩa khác là “lưới lạ”. Như vậy, ở phương diện này Kỳ La là chữ dùng để gọi một nhóm cư dân chuyên làm nghề chài lưới.
Theo tác giả Bình Nguyên Lộc, trong tiếng Malayu chữ Kuala có nghĩa là cửa sông đổ ra biển, còn tiếng Việt chữ Cơ La hay Kỳ La là gọi chệch từ chữ Kuala4. Đó là vết tích nguồn gốc tiếng Malayu cổ trong ngôn ngữ, văn hóa của người Việt.
Kỳ La là tên cửa biển, tên vùng đất gần cửa biển, tên địa danh hành chính cấp xã hoặc cấp huyện từ thế kỷ thứ 10 đến năm 19565.
Về tên gọi Nhượng Bạn. Tương truyền vào cuối thời Trần, cung phi Hoàng Càn, người con gái làng Quèn Đông6 đã xin vua mảnh đất ngã ba sông biển làm điền trang rồi chiêu tập người dân tứ xứ về đây khai hoang lập nghiệp, từ đó mà hình thành nên làng Nhượng Bạn. Trong tiếng Hán - Việt, chữ “Nhượng” có nghĩa nhường cho, còn chữ “Bạn” nghĩa là bờ đất, như vậy Nhượng Bạn được hiểu là bờ đất được nhường.
Theo Cẩm Xuyên phong thổ ký của Lê Huy Tiềm: “Thời nhà Lê, một số dân kiều cư ở xã Kỳ La, xin một doi cát lập nên xã Nhượng Bạn, nhân đó cửa bể Kỳ La này cũng được đổi tên thành cửa Nhượng, rộng khoảng 20 tầm, nước lên cao 1 tầm 2 tấc, nước rặc xuống đến 4 thước 5 tấc”7.
Theo Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn ghi chép về hải trình của đoàn quân Lê - Trịnh từ Thăng Long vào Thuận Hoá, Quảng Nam và Châu Ổ huyện Bình Sơn:“Đến cửa Nhượng Bạn ba canh (cửa này cạn hẹp, bờ tả có núi đá, bờ hữu bãi cát)”8. Phủ biên tạp lục được Lê Quý Đôn biên soạn vào năm 1776, nghĩa là tên gọi Cửa Nhượng Bạn ít nhất đã có từ trước đó. Đây tài liệu thành văn cổ nhất nhắc tên Nhượng Bạn. Như vậy tên gọi Cửa Nhượng Bạn đã xuất hiện trên dưới 250 năm.
Về địa lý, Cửa Nhượng là nơi sông Lạc Giang đổ ra biển. Lạc Giang (sông Lạc) là hợp lưu của sông Gia Hội và sông Rác. Bờ bắc là xã Thiên Cầm; bờ nam là xã Cẩm Trung. Sách Đại Nam nhất thống chí ghi: "Cửa Nhượng nằm trên địa bàn xã Nhượng Bạn, cách phía Nam của huyện Cẩm Xuyên 13 dặm (6 km). Cửa này rộng 42 trượng. Triều cường nước sâu 3 thước".

Cửa Nhượng, Hà Tĩnh. Ảnh: Trọng Tùng
Về hệ thủy văn, Cửa Nhượng thuộc hệ sông Lạc Giang. Đại Nam nhất thống chí chép: sông này cách huyện Cẩm Xuyên (cũ) khoảng 21 dặm (10km). Sông phát nguyên từ núi Vọng Liễu, xuôi về Đông 14 dặm (7km) đến ngã ba xã Lạc Hạ (xã Cẩm Lạc) thì tách dòng. Một nhánh chảy về Nam đổ ra Kênh Nưa (Na Cảng). Nhánh thứ hai chảy theo hướng Đông Bắc, đi qua làng Hóa Dục9 khoảng 20 dặm (10km) thì chảy ra Cửa Nhượng. Sông này sát ngay đường cái quan, có bên đò sông Lạc. Nhánh quan trọng thứ hai của hệ nước Lạc Giang là sông Hộ (Hộ Giang). Sông này nằm cách mé Nam của huyện Cẩm Xuyên (cũ) 3 dặm. Sông phát nguyên từ núi Chủ Trương, xuôi đến xã Mĩ Duệ (cũ) thì phân dòng: (1) Nhánh thứ nhất chảy theo hướng Bắc rồi đổ vào sông Nài. (2) Nhánh thứ hai chảy về Nam, qua Như Hà và Thủy Triều rồi hợp lưu với kênh Nưa, lại chảy thêm 21 dặm (10km) nữa thì đến thôn Vân Đồn của xã Thổ Ngọa (cũ) trở thành sông Hộ Giang. Sông Hộ chảy thêm 31 dặm (15km) thì hợp lưu với sông Lạc (Lạc Giang) rồi đổ ra Cửa Nhượng.
Ngoài ra, còn có kênh Lạc Hạ (Lạc Hạ cảng) cách huyện lị Kỳ Anh (cũ) 40 dặm về phía bắc (20km). Kênh này bắt nguồn từ thôn Sơn Triều, chảy lên Bắc và hợp lưu với sông Rác. Toàn thư chép: năm 1375, vua Trần Duệ Tông cho đào kênh đến cửa biển Hà Hoa (chính là kênh Na và kênh Lạc Hạ). Đến cuối thế kỷ 19, kênh bị tắc. Năm 1899 (Thành Thái thứ 11) triều Nguyễn cho khơi sâu thêm 4-5 thước để thuyền bè đi lại thuận lợi.
Cửa Nhượng là một vùng địa lý ven bờ, nơi giao thoa giữa nguồn nước mặn từ biển vào và nước ngọt từ đất liền sinh ra nguồn nước lợ. Mặc dù ngắn và hẹp nhưng sông Lạc Giang tích tụ khá nhiều phù sa, giàu phù du làm nguồn thức ăn cho tôm cá ở vùng hạ du. Lúc triều cường, hai bên bờ nhìn xa thăm thẳm, có chỗ rộng tới 700m. Dòng sông này hay đổi dòng chính, tạo nên nhiều bãi bồi, cù lao và cồn cát. Việc thay đổi dòng chảy diễn ra rất thường xuyên và nhanh chóng, thậm chí ngay trong một ngày, đòi hỏi người đi tàu thuyền ra vào cửa sông phải am thủy, thạo luồng. Dọc theo hai bờ sông có nhiều bến đò ngang, trong đó bến đò Cửa (Nhượng) là đông khách nhất. Năm 2014, khi cây cầu Cửa Nhượng được bắc qua sông, những chuyến đò ngang không còn xuất hiện nữa.
Bờ Nam Cửa Nhượng có dãy núi đá mà Phủ biên tạp lục chép chính là Tượng Lĩnh, núi này nằm trên địa phận xã Hóa Dục. Phía Tây liền với núi Kỳ Đầu, phía Bắc giáp sông Lạc, phía Đông chớm sát biển. Về hình thế, từ mạn đông bắc của dãy núi, những đỉnh núi thấp nối tiếp nhau chạy dài về phía Nam, trông tựa một con voi khổng lồ đang cúi mình uống nước biển.
Núi Tượng Lĩnh có đỉnh cao nhất là 463m ngay sát cửa biển, các đỉnh khác từ đó xuôi về phía Nam dọc theo bờ biển. Từ đỉnh núi này có thể bao quát toàn bộ không gian Cửa Nhượng, từ đất liền ra biển. Phía Tây Bắc là hòn Bơớc, phía Bắc là hòn Én, phía Nam xuống đến vùng biển của huyện Kỳ Anh (cũ).
Ngọn núi này có nhiều tên khác nhau như Tượng Lĩnh (Tượng Tị sơn), nghĩa là núi Vòi Voi, dân bản xứ gọi là núi (rú) Cửa, rú ông Tra hoặc rú Cột cờ.
Từ thời Tiền Lê đến Hậu Lê, các triều đại phong kiến nước ta đã thực thi chủ quyền bằng việc xây dựng một pháo đài ở núi Tượng Lĩnh để canh phòng người Chiêm Thành từ biển vào cướp phá, khi phát hiện giặc đột nhập, lính canh phòng sẽ đốt lửa báo hiệu. Dưới thời Nguyễn còn đặt chức Tấn thủ trông coi và cắt lính bản xứ để tuần tra, sau đó lại bỏ. Thời Pháp thuộc được xây dựng một cột đèn nhằm phục vụ hoạt động hàng hải nhưng sau đó bị bão biển tàn phá. Ngày nay, tại phần rìa núi Tượng Lĩnh như chiếc vòi voi - sừng sững một trạm hải đăng cột đèn cao 15m so với mực nước biển, báo hiệu, dẫn đường cho tàu thuyền qua lại trên “con đường thiên lý biển” và ra vào cửa lạch an toàn.
Chính quyền các thời kỳ đều đặt vọng gác và trạm thuế quan tại đây để quản lý tàu thuyền, đo đạc trọng tải, quy định mức thuế. Tàu buôn, thuyền đánh cá ra vào cửa lạch đều phải xuất trình sổ sách, chấp hành việc kiểm tra, khám xét và thực hiện nghĩa vụ thuế. Thời Pháp thuộc, trạm hải quan được chuyển về làng Thiện Trị10. Từ đó, người dân địa phương gọi địa điểm kiểm soát tàu thuyền và thu thuế này là “Thuế Quan”.
2. Những sự kiện lịch sử gắn với Cửa Kỳ La - Nhượng Bạn
Dưới thời Tiền Lê, Toàn thư lần đầu tiên nhắc đến cửa biển này với tên gọi Cơ La, gắn với một sự kiện xảy ra vào năm 1005. Tháng 3 năm Ất Tỵ (1005), vua Lê Đại Hành băng hà, các hoàng tử nổi lên tranh giành ngôi vị, khiến đất nước rơi vào cảnh “8 tháng không có chủ”. Đến mùa đông, tháng 10, Đông Thành Vương Lê Long Tích thất thế, chạy vào đất Cử Long. Bị truy đuổi, ông tiếp tục chạy sang Chiêm Thành chưa đến nơi thì bị người châu Thạch Hà giết tại cửa biển Cơ La11.
Dưới thời Lý, Kỳ La là cửa biển được mô tả rất rộng lớn hàng trăm thuyền có thể neo đậu. Tháng 7 năm Quý Hợi (1203), vua nước Chiêm Thành là Bố Trì lấy cớ bị chú là Bố Điền đánh đuổi. Bố Trì đưa vợ con và đội quân trên 200 chiếc thuyền Bị Lan12 ra cửa biển Cơ La cầu cứu.
Nhận được tin báo, vua Lý Cao Tông cử Đàm Dĩ Mông và Đỗ An vào Kỳ La. Thời bấy giờ, việc một người bị đánh đuổi nhưng lại huy động nhiều thuyền chở cả binh lính, vợ con cùng đi lánh nạn là điều hết sức đáng ngờ. Đàm Dĩ Mông cảnh báo các tướng trấn giữ Nghệ An là Đỗ Thanh và Phạm Diên phải đề phòng về hành động của Bố Trì, nhưng họ chủ quan, không nghe theo. Bất bình trước sự lơ là ấy, Đàm Dĩ Mông tức giận trở về Thăng Long. Thấy vậy các tướng trấn giữ mới lo sợ, tính kế đánh Bố Trì, nhưng âm mưu bị lộ, quân sĩ lại thiếu phòng bị và mắc kế đối phương. Kết quả, “quân Nghệ An tan vỡ, chết nhiều không kể xiết, Bố Trì thả sức cướp bóc rồi về”13.
Dưới thời Trần, năm 1375, để chuẩn bị cho việc tiến đánh Chiêm Thành, vua Trần Duệ Tông đã huy động nhân dân đắp sửa đường sá, nạo vét đường sông, đào kênh từ Cửu Chân đến cửa biển Hà Hoa.
Dưới thời Hồ, đất Hà Tĩnh nói chung và Cửa biển Kỳ La nói riêng đã chứng kiến một trong những biến cố đau thương của lịch sử đất nước: cha con Hồ Quý Ly bị quân Minh bắt, đưa về Kim Lăng.
Sử sách chép: “Tháng 5 năm Đinh Hợi (1407), tướng giặc Minh là Liễu Thăng truy đuổi cha con Hồ Quý Ly cùng đám tàn quân chạy vào Kỳ La. Khi đến đây, giặc phát hiện thấy quân và voi chiến của ta bèn đổ bộ lên đánh, hai bên giao chiến nhưng quân nhà Hồ thất bại”14. Khi đến vùng Cửa biển Kỳ La có một bô lão ra bái yết và nói “Xứ này tên gọi là Ky Lê, trên có núi Thiên Cầm, đó là điều không tốt, xin chớ ở đây”15, Hồ Quý Ly nổi giận chém đầu bô lão rồi ẩn mình ở một hang sâu trong núi. Ngày 11 tháng 5 năm Đinh Hợi (tức là ngày 16/6/1407), Hồ Quý Ly và Hồ Nguyên Trừng bị giặc Minh bắt ở vùng Cửa biển Kỳ La. Sau đó một ngày (ngày 17/6/1407), giặc bắt Hồ Hán Thương và con trai là Nhuế tại núi Cao Vọng”16.
Dưới thời Hậu Lê: Thời Lê sơ, Nguyễn Trãi có nhắc đến Cửa biển Kỳ La trong “Dư địa chí” (1435) và Kỳ La (Kỳ La môn) được vẽ trong Bản đồ Hồng Đức (năm 1467). Theo sách Nghiên cứu bản đồ các cửa sông, hải cảng Việt Nam thế kỷ XV của Gustave Dumoutier (1850 -1904) “Đây là tài liệu quân sự được thiết lập dựa trên các thông tin thu thập được khoảng cuối thế kỷ XV của các phái viên do vua Lê Thánh Tông cử đi mật thám vẽ để chuẩn bị cho việc thôn tính Champa (Chiêm Thành) được thuận lợi”17. Chưa rõ vị học giả người Pháp sử dụng nguồn sử liệu nào khi cho rằng tập bản đồ này được vẽ dưới thời vua Lê Thánh Tông. Nếu đúng như vậy thì tập bản đồ này phải được hoàn thành trước mùa đông năm 1470, thời điểm nhà vua xuất quân18.
Toàn thư chép, trước khi xuất quân, vua Lê Thánh Tông ra chỉ dụ: “Phàm đi qua đền thờ thần nào cũng sai quan dâng lễ tế, cầu cho quân thắng trận”19. Khi đến Cửa Kỳ La, đoàn thủy quân Đại Việt neo đậu tàu thuyền để bổ sung lương thảo, thực phẩm, nước ngọt, than củi và các nhu yếu phẩm, chuẩn bị cho chặng đường hành quân tiếp theo.
Sang thời Lê Trung hưng (Lê - Trịnh), địa danh Kỳ La xuất hiện trong truyện “Na Sơn tiều đối lục” của Nguyễn Dữ, “Vịnh Cầm sơn” của Bùi Huy Bích, “Cửa biển Kỳ La” của Ninh Tốn...
Cửa Kỳ La cũng từng là địa điểm xẩy ra trận thủy chiến giữa quân chúa Trịnh và quân chúa Nguyễn. “Đại Nam thực lục chép”: tháng 5 năm 1655, chúa Trịnh Tráng sai tướng Võ Văn Thiềm đưa 50 chiến thuyền đến đóng tại cửa biển Kỳ La20. Đến tháng 8 cùng năm, chúa Nguyễn cử tướng Nguyễn Hữu Dật dẫn quân tiến đánh Kỳ La (Cửa Nhượng), quân của Võ Văn Thiềm thua to rút chạy về Cửa Nam Giới (Cửa Sót).21.
Dưới thời Nguyễn, năm 1874 nhà Nguyễn điều hai chiếc tàu chiến bọc đồng là Mẫn Thỏa và Thuận Tiệp từ Cửa Thuận An ra Cửa Nhượng để vận chuyển quân ra phía Bắc. Binh lính đồn trú tại các địa phương ở Hà Tĩnh được lệnh hành quân đến Cửa Nhượng, lên tàu22 di chuyển ra Bắc. Điều này cho thấy Cửa Nhượng từng giữ vị trí quan trọng trong việc trung chuyển quân lực và bảo đảm giao thông đường biển của triều Nguyễn.
Từ thế kỷ XVIII, đạo Thiên Chúa xuất hiện ở Nhượng Bạn. Các giáo sĩ phương Tây theo đường biển, từ Cửa Nhượng ngược theo sông Lạc Giang để truyền giáo tới các địa bàn khác trong tỉnh. Năm 1870, Giáo xứ Nhượng Bạn được thành lập, trở thành một trong những giáo xứ ra đời sớm ở giáo phận Nam Đàng Ngoài, nay là Giáo phận Hà Tĩnh.
Cửa Nhượng sau Cách mạng tháng Tám năm 1945
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1954), Nhượng Bạn nằm trong vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh, một hậu phương rộng lớn và vững chắc, vừa chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến, vừa trực tiếp tham gia chiến đấu. Trong bối cảnh đó, hệ thống sông Lạc Giang và Cửa Nhượng trở thành tuyến đường thủy quan trọng, phục vụ vận chuyển hàng hóa, lương thực, vũ khí, chi viện cho chiến trường các tỉnh phía Nam.23.
Nhận thức rõ vị trí địa quân sự, địa chiến lược quan trọng của vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh nói chung và Cửa Nhượng nói riêng, ngay từ tháng 5/1946, chính quyền cách mạng đã xây dựng thế trận phòng thủ tại đây như vọng gác để theo dõi hoạt động của tàu thuyền địch; cắm cọc nhọn tại một số đoạn cửa sông nhằm ngăn chặn tàu địch tiến vào.
Tháng 6/1946, trong chuyến công tác kiểm tra tình hình quân sự tại một số tỉnh miền Trung, đồng chí Võ Nguyên Giáp, Chủ tịch Kháng chiến Ủy viên hội đã đến thị sát Cửa Nhượng, sau đó gặp và nói chuyện thân mật với nhân dân Nhượng Bạn tại khu vực đền Cả. Sự hiện diện của chỉ huy quân sự lừng danh trong Chính phủ cho thấy Cửa Nhượng có vai trò quan trọng trong thế trận quân sự vùng biển miền Trung.
Từ năm 1946 đến năm 1953, Nhượng Bạn nhiều lần phải đối mặt với những cuộc tấn công của kẻ thù, đầu tiên là giặc Tàu Ô (Tàu Tưởng), sau đó chủ yếu là giặc Pháp. Trong đó, trận càn ngày 4/9/1953 là một trong những trận chiến đấu bi hùng, để lại ký ức không thể phai mờ trong đời sống người dân Nhượng Bạn.
Rạng sáng ngày 4/9/1953 (tức ngày 27/7 năm Quý Tỵ), giặc Pháp bất ngờ cho máy bay quần đảo trên bầu trời, đồng thời sử dụng tàu chiến, ca nô chở lính Âu - Phi cùng ngụy quân từ đường biển đột nhập vào làng. Trong bối cảnh đó, du kích Nhượng Bạn vừa hướng dẫn người dân sơ tán ra các bãi sú vẹt, đồng muối, xuống hầm trú ẩn, vừa sử dụng những vũ khí sẵn có như mìn, lựu đạn, súng trường, chống trả quyết liệt, tiêu diệt, làm bị thương hàng chục tên địch và thu được một số vũ khí.
Giặc Pháp lùng sục khắp đường làng, ngõ xóm, từng ngôi nhà, hầm trú ẩn; sát hại nhiều người dân, trong đó có người già, phụ nữ và trẻ em, kể cả phụ nữ đang mang thai. Chúng đốt phá nhà cửa, thuyền bè, chài lưới, ngư cụ, cướp phá tài sản của người dân. Đặc biệt, 12 cụ già bị địch bắt đưa ra bãi Cồn Mom rồi xả súng sát hại.
Trong trận chống càn ấy, 20 cán bộ, dân quân, du kích đã hy sinh và 83 người dân bị giết hại. Từ đó, ngày 27/7 âm lịch hằng năm trở thành ngày giỗ trận càn của người dân Nhượng Bạn, một ngày tưởng niệm những người đã ngã xuống, nhắc nhớ các thế hệ hôm nay về những mất mát mà quê hương từng gánh chịu, đồng thời đề cao tinh thần cảnh giác trước kẻ thù ở bất kỳ hoàn cảnh nào.
Trong kháng chiến chống Mỹ, Cửa Nhượng và địa bàn xã Cẩm Nhượng là một trong những đầu mối giao thông đường thủy quan trọng của Hà Tĩnh. Chính vì vậy Cửa Nhượng trở thành một trong ba địa bàn của huyện Cẩm Xuyên (cũ) bị không quân và hải quân Mỹ tập trung đánh phá với cường độ cao, hết sức ác liệt.
3. Có phải Cửa Kỳ La và Cửa Nhượng là hai cửa biển khác nhau?
Gần đây một số nhà nghiên cứu đưa ra ý kiến khá thú vị: Cửa Kỳ La và Cửa Nhượng là hai cửa biển khác nhau cả về tên gọi lẫn cư vực địa lý, cho dù đó là nơi sông Lạc Giang đổ ra biển Đông.
“Cửa biển Kỳ La xưa nằm ở phía Bắc núi Thiên Cầm”24, “từ nguồn nước sông Rác và sông Ngàn Mọ hợp lưu tại ngã ba Quèn theo cửa Kỳ La đổ ra biển. Do một trận bão biển tàn phá dữ dội sông Kỳ La bị đoạt dòng tại ngã ba Quèn, chuyển đổi dòng chảy sang hướng đi của sông Rác, mở rộng ngọn khe như đã có, thành sông Đại giang (còn gọi là Lạc Giang), đổ ra biển. Từ đó, cửa biển cũ đổi thành cửa Nhượng”25.
Ý kiến khác cho rằng núi Thiên Cầm từng là một hòn đảo, được dòng chảy của Cửa biển Kỳ La bao bọc. Qua thời gian, phù sa bồi tụ và sự biến đổi dòng chảy làm cửa biển dịch chuyển dần về phía Nam, hình thành Cửa Nhượng ngày nay. Cách đây khoảng 60 năm về trước, phía Bắc núi Thiên Cầm vẫn còn những hói nước sâu; phía Nam là một vùng đầm phá và bàu nước ngọt, trong đó có Bàu Sen, khá rộng lớn. Với giả thuyết này, những địa hình trên có thể là dấu tích của hệ thống cửa biển, đầm phá từng tồn tại ở khu vực núi Thiên Cầm trong quá khứ.
Nếu giả thuyết này được chứng minh, Cửa Kỳ La có thể được xem là một cửa biển cổ từng tồn tại trong lịch sử nhưng về sau bị bồi lấp, trong khi Cửa Nhượng hình thành muộn hơn do tác động của quá trình bồi tụ phù sa và biến đổi dòng chảy sông Lạc Giang. Trong lịch sử, hiện tượng cửa biển bị bồi lấp sau đó trở thành những xóm làng duyên hải không phải là trường hợp cá biệt như Cửa biển Cương Gián, huyện Nghi Xuân (cũ), hay cửa Thần Phù, Thanh Hóa...
Sang những năm 1970 -1980, các công trình thủy lợi như hồ Kẻ Gỗ, hồ sông Rác được xây dựng nhằm điều tiết nguồn nước phục vụ sinh hoạt và tưới tiêu đã làm thay đổi chế độ dòng chảy tự nhiên. Khi lượng nước và phù sa từ thượng nguồn đổ về cửa sông suy giảm, quá trình bồi tụ ở Cửa Nhượng cũng chịu tác động. Trong khi đó, tác động của thủy triều và sóng biển ngày càng thể hiện rõ, gia tăng nguy cơ xói lở bờ, buộc chính quyền phải xây hệ thống kè chắn sóng để bảo vệ đất và khu dân cư.
Như đã đề cập, việc xác định Cửa Kỳ La và Cửa Nhượng có phải là hai cửa biển khác nhau, hay chỉ là những tên gọi gắn với sự dịch chuyển của một hệ thống cửa biển theo thời gian, cần được tiếp tục nghiên cứu. Đây là vấn đề không thể chỉ giải quyết bằng một nguồn tư liệu hoặc một phương pháp đơn lẻ. Cần tìm kiếm, đối chiếu thêm các tư liệu lịch sử trong và ngoài nước về cửa sông, cửa biển, thương cảng cổ; đồng thời kết hợp nghiên cứu liên ngành giữa sử học, khảo cổ học, địa lý, địa chất, thủy văn và hải dương học. Việc đối chiếu tư liệu với dấu tích địa mạo và biến đổi dòng chảy qua các thời kỳ sẽ giúp làm sáng tỏ hơn lịch sử hình thành, biến đổi của Kỳ La - Cửa Nhượng để có thể đưa ra những kết luận khoa học.
Xác định rõ vị trí chiến lược của Cửa Nhượng đối với quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế - xã hội, Nhà nước đã đầu tư xây dựng Cảng cá Cửa Nhượng. Khi đi vào hoạt động, cảng không chỉ là nơi tàu thuyền cập bến, tiêu thụ sản phẩm mà còn trở thành đầu mối dịch vụ hậu cần nghề cá, cung ứng vật tư, nhiên liệu, bốc dỡ, thu mua và bảo quản hải sản. Qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả khai thác của ngư dân, tạo thêm động lực phát triển kinh tế, du lịch, văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường và xây dựng nông thôn mới ở xã Thiên Cầm.
Trải qua hơn một nghìn năm lịch sử, các thế hệ cư dân nơi cửa biển đã bền bỉ vượt qua bao biến thiên, kiên cường bám biển, giữ làng; cần cù, sáng tạo trong lao động, biến những vùng đất hoang vu, bãi bồi ven sông, ven biển thành một làng quê trù phú, sầm uất và giàu sức sống. Những lớp trầm tích của lịch sử, văn hóa và đời sống cộng đồng đã làm nên bản sắc riêng của Cửa Nhượng - Thiên Cầm, đồng thời tạo nên một nguồn lực tinh thần quý giá cho hôm nay và mai sau.
Cửa Nhượng hôm nay không chỉ mang trong mình câu chuyện về một cửa biển được nhắc đến nhiều trong sử sách mà còn đứng trước một hành trình mới. Từ nơi chứng kiến những cuộc thiên di, giao thương, chiến trận và bao thăng trầm của lịch sử, các thế hệ hôm nay đang tiếp nối mạch nguồn ấy bằng khát vọng dựng xây, hội nhập, phát triển./.
N.T.T
___________________
1. Ngô Thời Sỹ - Ngô gia văn phái, Việt sử tiêu án gọi là cửa biển Cô La, Nxb Hồng Đức, 2022, tr 236.
2. Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, Nxb Văn hóa - Thông tin, 2007, tr 144.
3. Đại Nam nhất thống toàn đồ của triều Nguyễn in năm 1834 gọi là Cửa Hải Nhượng.
4. Bình Nguyên Lộc, Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam, Bách Bộ xuất bản, 1970, tr 530, 531.
5. Sau CCRĐ 1956, Kỳ La được đổi thành xã Cẩm Long. Năm 2003, thị trấn Thiên Cầm được thành lập từ xã Cẩm Long. Tháng 7/2025, xã Thiên Cầm được thành lập từ thị trấn Thiên Cầm, xã Cẩm Nhượng (Nhượng Bạn cũ) và xã Nam Phúc Thăng.
6. Từ năm 1956 gọi là xã Cẩm Lộc, Cẩm Xuyên; tháng 7/2025, thuộc xã Cẩm Trung, tỉnh Hà Tĩnh.
7. Lê Huy Tiềm trong sách Phong thổ các huyện tỉnh Hà Tĩnh (1932), Sở Văn hóa Thông tin Hà Tĩnh xuất bản năm 2001, tr104.
8 Lê Quý Đôn, sđd, tr 144.
9. Sau CCRĐ 1956 đổi tên thành xã Cẩm Lĩnh, từ 2026 thuộc xã Cẩm Trung.
10. Nay thuộc thôn Liên Thành, xã Thiên Cầm.
11. Đại Việt sử ký toàn thư (Toàn thư), Nxb Hồng Đức 2023, tr 183.
12. Theo Lương Ninh, Vương quốc Cham pa, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.142, thuyền Bị Lan là thuyền chiến đấu, thuyền đinh không mui, sức chở không lớn lắm, có hai hàng thủy quân chèo chuyền và một số chiến sĩ, tất cả độ vài ba chục người. Thuyền có thể đi ven biển và vào sông rất thuận tiện, dùng để đánh cá hay chiến đấu.
13. Toàn thư, sđd, tr 316.
14. Đào Duy Anh, Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX, Nxb Văn học, 2014, tr 257.
15. Toàn thư, sđd, tr 571.
16. Toàn thư, sđd, tr 570.
17. Gustave Dumoutier, Nghiên cứu bản đồ các cửa sông, hải cảng Việt Nam thế kỷ XV, Nxb Hà Nội, Công ty Sách Omega Việt Nam, 2020, tr 8, tr 167.
18. Cửa Kỳ La (Kỳ La môn) được vẽ ở tờ bản đồ số thứ 12 của cuốn sách.
19. Toàn thư, sđd, tr 837-838.
20. Đại Nam thực lục, Nxb Giáo dục, 2001, tập 1, tr 65.
21. Đại Nam thực lục, Nxb Giáo dục, 2001, tập 1, tr 66.
22. Đại Nam thực lục, Nxb Giáo dục, 2001, tập 8, sđd, tr 49.
23. Theo cuốn Hà Tĩnh 30 năm kháng chiến (1945-1975) do Đảng ủy - Bộ Chỉ huy Quân sự Hà Tĩnh xuất bản năm 1998: Trong tháng 7,8/1951, Cửa Nhượng là địa điểm tập kết vận chuyển 200 tấn gạo và 65 tấn muối cho phía Nam tỉnh Thừa Thiên Huế.
24. Lịch sử Hà Tĩnh tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, 2000, tr 24.
25. Võ Hồng Huy tác phẩm, tập 1 - Non nước Hồng Lam, Nxb Văn học, 2018, tr 138,139.