15-09-2026 - 00:23

Một dải Lam Hồng dạt dào sức sống

Kỷ niệm 195 năm thành lập tỉnh (1831-2026) và 35 năm tái lập tỉnh Hà Tĩnh (1991-2026). Tạp chí Hồng Lĩnh số 240 giới thiệu bài viết “Một dải Lam Hồng dạt dào sức sống” của tác giả Bùi Minh Huệ

Những cơn mưa nhẹ nhàng kéo về bao cảm xúc vừa lạ vừa xưa cũ: chút tiếc nuối cái nồng nàn cái nắng hạ, chút bâng khuâng xao xuyến khi bước chân mùa thu dịu dàng trở về. Cái cảm giác thật lạ khi đặt chân lên những con đường của mảnh đất Thành Sen quê hương yêu dấu khi mùa thu vừa chạm ngõ. Một câu hỏi cứ lớn dần trong tôi: Mùa thu ấy, cách đây 195 năm, khi vua Minh Mạng lập ra tỉnh Hà Tĩnh, vùng đất ấy như thế nào? Quang cảnh buổi đầu ra sao?

Thành Sen - 195 năm tạo thế đứng trung tâm tỉnh lỵ

Lòng bồi hồi, tôi tìm giở những trang sách cũ, những bức hình của trung tâm tỉnh lỵ đầu thế kỷ do người Pháp chụp và chắp nối với ký ức của ông bà, bố mẹ để hình dung một không gian cách đây gần 200 năm.

Trong cuốn Hà Tĩnh - Thành Sen 160 năm do Thị uỷ và UBND Thị xã Hà Tĩnh xuất bản tháng 9/1991 (Thái Kim Đỉnh chủ biên) ở trang 33 “Thiết lập tỉnh Hà Tĩnh, chọn đất đặt thành” viết (không trích nguyên văn): "Tân Mão, năm thứ 12 (1831), vua Minh Mệnh đổi “trấn” làm “tỉnh” và cắt hai phủ Đức Thọ, Hà Hoa của Nghệ An lập tỉnh Hà Tĩnh. Phủ Đức Thọ lúc đó gồm huyện La Sơn (do phủ Kiêm lý) và các huyện thuộc Thiên Lộc (sau là Can Lộc), Nghi Xuân, Hương Sơn (sau chia đôi, lập thêm Hương Khê); Phủ Hà Hoa (sau đổi là Hà Thanh) gồm hai huyện Thạch Hà (do Phủ kiêm lý và Kỳ Anh (năm 1837 chia đôi lập thêm huyện Cẩm Xuyên). Tỉnh Hà Tĩnh có Tuần vũ, Án sát, Lĩnh binh cai quản, nhưng là tỉnh nhỏ, phải đặt dưới quyền của Tổng đốc An - Tĩnh. Vua Minh Mệnh giao cho tỉnh thần Nghệ An, Hà Tĩnh chọn đất đặt tỉnh thành".

Trong buổi sơ thiết, tỉnh đường tạm đặt tại xã Đại Nài, phủ Hà Hoa. Vào tháng Giêng năm Quý Tỵ, Minh Mệnh thứ 14 (1833), tỉnh thành mới được khởi công xây đắp”. Sách Đại Nam thực lục chính biên - Đệ nhị kỷ VIII ghi: “Tổng đốc, Tuần phủ cùng với Giám thành chọn được xã Trung Tiết, huyện Thạch Hà địa thế cao ráo, rộng rãi, đằng trước có núi Cảm Sơn, lại có một dải sông dài chảy quanh phía trước, vòng sang bên tả, trên nối với sông Nại giang, dưới chảy ra Cửa Sót. Đó là một khu đất đẹp. Họ bèn xin đóng tỉnh thành ở đây…”. Cũng theo sách này, thành được đắp bằng đất, nhà cửa, dinh thất trong thành, Hành cung, các dinh: Tuần phủ, Án sát, Bố chính, Lĩnh binh và trại lính, nhà lao, trường học tỉnh đều làm bằng gỗ, lợp lá.

Đã là người dân Hà Tĩnh, không ai không nhớ truyền thuyết pha màu huyền thoại: Khi xây xong đạo thành Đại Nài (vào năm 1853 - thời kỳ này bỏ tỉnh Hà Tĩnh, chuyển phủ Đức Thọ về Nghệ An, lấy phủ Hà Thanh làm đạo Hà Tĩnh, thuộc tỉnh Nghệ An), sau một đêm mưa gió, sáng dậy người ta thấy sen nở đầy Hào Thành, hương thơm ngào ngạt nên mới đặt lên là Liên Thành (Thành Sen). Sau quá trình nhập, tách với Nghệ An, năm 1875, tỉnh Thành Hà Tĩnh lại dời về thành cũ ở Trung Tiết (địa điểm hiện nay thuộc khu vực UBND tỉnh Hà Tĩnh). Đến năm 1881, thành Hà Tĩnh mới được xây xong, bằng đá ong. Thành xây theo kiểu Vô - băng có mặt phẳng và gấp khúc theo hình chữ V. Chu vi thành 366 trượng 5 thước, 6 tấc, cao 8 thước (3,2 m) xung quanh chân thành có hào rộng 5 trượng (20m) sâu 4 thước (1,6m) chiếm diện tích gần 134.000 m2, nếu tính cả phía ngoài Hào Thành là 160.000 m2. Thành có 4 cửa: cửa tiền, cửa hậu, cửa tả, cửa hữu, có lầu chuông gác trống, vọng gác, nhà lao bên trong (*). Trong thành có hồ nước nên gọi là Hồ Thành. 

Cái tên Cửa Hữu được định danh trong tôi nhờ câu chuyện của mẹ kể: ông ngoại được gọi vào Thành đóng bàn ghế vì ông vốn là thợ mộc. Có lần mẹ theo ông vào Thành bằng lối Cửa Hữu (khu vực ngã tư đường Lý Tự Trọng và Nguyễn Công Trứ bây giờ). Thành rộng và đẹp, có hồ nước sâu và trong vắt, lính khố xanh đứng gác. Sau này, đọc lại sử sách, tôi hiểu thêm về tên gọi khu phố Thành Đông (đường Nguyễn Trung Thiên, đoạn từ ngã tư giao nhau với đường Hải Thượng Lãn Ông đến giao nhau với đường Phan Đình Phùng hiện nay) nơi có Nhà thờ Tịnh Giang và Võ Miếu, hình dung được vị trí cửa tiền, cửa hậu, nhà lao Hà Tĩnh, nơi các chiến sĩ cách mạng trung kiên bị giam cầm. Mỗi lần đi qua hồ Dâu phía đông bắc Thành, tôi vẫn mường tượng thấy máy chém của thực dân Pháp được dựng lên để hành hình những người yêu nước. Hào Thành nay đã được cải tạo, phục hồi, duy Thành Hà Tĩnh, Hồ Thành chỉ còn trong ký ức mà thôi.

Thành cổ Hà Tĩnh những năm 1930 - 1935. Ảnh: Tư liệu

Dẫu qua bao biến cải của đất trời và đổi thay địa giới hành chính của tỉnh Hà Tĩnh (tách - nhập thời Tự Đức (1841- 1875), nhập - tách 1976 - 1991 thời Nghệ Tĩnh) thì sông Phủ núi Nài vẫn nguyên thế núi hình sông ở phía Nam, Hào Thành sông Cụt (Tân Giang) vẫn chảy trầm mặc giữa trung tâm thành phố. Vẫn còn đây Hồ Dâu, hồ Bảy Mẫu, hồ Nhà hát (phía sau Trung tâm Văn hóa, Điện ảnh và Xúc tiến Du lịch tỉnh ngày nay) hồ Bắc Hà, chợ tỉnh, Văn Miếu, Võ Miếu... Biết bao phố làng thân thương: Trung Tiết, Phú Hàu,Tiền Bạt, Nam Ngạn, Tân Giang, Hà Hoàng, Bồng Sơn, Đồng Quế, Thành Đông, Đồng Vinh, Lâm Phước Thọ, Trần Thị Hường… vẫn thăm thẳm trong ký ức những người Thành Sen từng chứng kiến bao thăng trầm của tỉnh lỵ nhỏ bé nhưng kiên cường và giàu bản sắc văn hóa.

Thị xã Hà Tĩnh được chính thức thành lập năm 1924 thời vua Khải Định, rồi nhập vào huyện Thạch Hà năm 1948, tách ra 1957. Thế kỷ XIX, người Pháp từng mệnh danh vùng đất này là “thành phố chết” bởi thiếu đi nhiều thứ của một thành phố đúng nghĩa lúc ấy. Nhưng bên trong lòng nó vẫn chứa đựng những sức sống mãnh liệt, phi thường bởi những con người yêu nước, yêu quê hương, ràng rịt máu thịt với mảnh đất này.

Liên Thành từng được dùng để đặt tên cho nhiều địa danh cách mạng thời kỳ tiền khởi nghĩa. Cuối tháng 3/1930, chi bộ Đông Dương Cộng sản đảng Thị xã Hà Tĩnh đổi tên thành chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam Thị xã Hà Tĩnh với 27 đảng viên do đồng chí Lê Bá Cảnh làm Bí thư. “Liên Thành thư quán” do Lê Bá Cảnh lập nên tập hợp và truyền bá nhiều sách báo cộng sản trong và ngoài nước. Liên Thành cũng được đặt tên cho nhiều tổ chức ở Thị xã, trong đó Đoàn Văn công Liên Thành hoạt động sôi nổi một thời kỳ dài từ chống Pháp sang chống Mỹ.

Chìm trong đêm dài nô lệ với đói rét, khổ đau, những địa danh Cồn Cồ, Cồn Sa, Độ Đen là nhân chứng của nạn đói khủng khiếp năm 1945. Nhưng dưới ánh sáng của Đảng, Thành Sen đã vùng lên giành tự do và cơm áo. Mỗi lần đi qua trụ sở Ngân hàng Đầu tư phát triển Hà Tĩnh, tôi lại nhớ đến lời của cố lão thành cách mạng Nguyễn Hữu Bình, người dẫn đầu đoàn khởi nghĩa kể về không khí hào hùng của nhân dân Thị xã Hà Tĩnh và các huyện kéo về Dinh tỉnh trưởng Hà Văn Đại, để rồi vị quan này nhanh chóng trao ấn kiếm cho chính quyền cách mạng. Chính quyền về tay nhân dân vào ngày 18/8/1945.

Thành Sen từng chứng kiến sự kiện vô cùng thiêng liêng và ý nghĩa diễn ra vào mùa sen. Đó là ngày 15/6/1957, Bác Hồ về thăm Hà Tĩnh sau 50 năm xa quê Nghệ An. Hình ảnh Người giản dị cùng bộ áo màu nâu, chân đất đứng bên hồ sen Tỉnh ủy mãi khắc sâu vào tâm trí người dân Hà Tĩnh. Liên Thành cũng chứng kiến trận đầu Hà Tĩnh đánh thắng không lực Hoa Kỳ với  trên trận địa Núi Nài vào ngày 26/3/1965.

Theo dòng chảy lịch sử dân tộc và sự phát triển của tỉnh Hà Tĩnh, trung tâm tỉnh lỵ đã có những bước chuyển mình đi lên, hòa vào dòng thác đổi mới của đất nước. Từ một thị xã phố làng với 2,5km2 và hơn 4400 dân, sau Cách mạng tháng Tám, Liên Thành - Thành Sen đã vươn mình vóc dáng hiện đại. Chỉ tính riêng diện tích phường Thành Sen, trung tâm tỉnh lỵ hiện nay đã lên đến 28,23 km2, dân số 90.983 người. Nhất cận thị, nhì cận sông. Sông Rào Cái (sông Phủ)  phía  Nam, sông Cày, sông Hộ Độ phía đông bắc, lại gần biển nên khí hậu, thời tiết ôn hòa, gần hồ Kẻ Gỗ nên nguồn nước dồi dào. Thành Sen hôm nay đang nối gót tiền nhân, phát huy hết tiềm năng lợi thế để xứng đáng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của Hà Tĩnh.

Một dải Lam Hồng núi sông trùng điệp

Hình dung được bức tranh trung tâm tỉnh lỵ những ngày đầu lập tỉnh và thế đứng hiện nay, tôi lại cố hình dung bức tranh toàn cảnh của “một dải Lam Hồng núi sông trùng điệp” cách đây gần 200 năm. Có một điều chắc chắn là núi Hồng vẫn sừng sững uy nghiêm, sông Lam, sông La vẫn trong xanh mềm mại uốn quanh. Núi như dáng cha, sông như bầu sữa mẹ nuôi lớn những cánh đồng, bờ bãi, những thế hệ cư dân đời nối đời. Chỉ có điều, cách đây 195 năm, khung cảnh quê hương Hà Tĩnh hoàn toàn không như bây giờ.

Năm 1831 là dấu mốc định danh mới của Hà Tĩnh để vùng “địa linh” thêm những cơ hội đổi thay, vừa tiếp nhận nguồn tài nguyên quý giá, những vỉa tầng văn hóa mà hơn 1800 năm cha ông đã dày công tạo dựng, vừa tạo ra những hệ giá trị mới, những cơ sở vật chất hạ tầng làm đổi thay gương mặt của một tỉnh nghèo ở Bắc Miền Trung.

Thời điểm lập tỉnh, tỉnh lỵ Hà Tĩnh cũng như các huyện đều nghèo, chủ yếu là làng quê nông thôn với những kiến trúc cũ kỹ, nhà tranh là phổ biến. Ngay cả tỉnh thành Hà Tĩnh cũng bằng tranh. Đến năm 1881, thành Hà Tĩnh mới được xây xong, bằng đá ong. Hầu hết các công trình kiến trúc của tỉnh thành và các huyện lúc đó chỉ tập trung vào trụ sở hành chính vừa là nơi làm việc của bộ máy chính trị, vừa có tính chất phòng thủ. Các công trình văn hóa như đền, chùa, miếu, am khá phong phú song quy mô, diện tích nhỏ bé. Trong cuốn An -Tĩnh cổ lục (công bố lần đầu năm 1936), nhà sử học người Pháp Hippolyte Le Breton đã đăng nhiều bức ảnh về các di tích lịch sử, văn hóa Hà Tĩnh, Nghệ An, trong đó có bức ảnh chụp Thành Hà Tĩnh từ trên không giúp chúng ta hình dung được quang cảnh của Hà Tĩnh cách đây 180 năm.

Tuy là vùng đất nghèo nhưng các thế hệ người Hà Tĩnh đã nối tiếp truyền thống yêu nước, hiếu học, văn chương và khoa bảng. Phong trào Cần Vương chống Pháp, phong trào yêu nước và cách mạng cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX tiếp tục ghi danh những tên tuổi tiêu biểu: Phan Đình Phùng, Nguyễn Hàng Chi, Ngô Đức Kế, Võ Liêm Sơn, Trần Phú, Hà Huy Tập, Trần Hữu Thiều… Là vùng đất văn hóa với nguồn trữ lượng dồi dào, vỉa tầng phong phú, các di sản văn hóa Hà Tĩnh tiếp tục được gìn giữ, bảo tồn, làm mới làm đẹp thêm. Danh nhân văn hóa của Hà Tĩnh thế kỷ XX nối nhau làm giàu có trữ lượng ấy, góp phần làm rạng rỡ gương mặt văn hóa Việt Nam: Hoàng Xuân Hãn, Lê Văn Thiêm, Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Đổng Chi, Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Đình Tứ, Hà Huy Giáp, Phan Huy Lê, Đinh Xuân Lâm, Hà Văn Tấn, Xuân Diệu, Huy Cận…

Chế độ thực dân, phong kiến cùng với ngoại xâm đè nặng lên đất nước nửa đầu thế kỷ XX đã khiến Hà Tĩnh xác xơ, nghèo đói, đặc biệt là nạn đói năm 1945 như bóng đen bao phủ lên các làng quê. Nhưng dòng thác cách mạng đã cuốn phăng tất cả. Sau Cách mạng Tháng Tám, Hà Tĩnh lao vào cuộc cách mạng diệt “giặc đói” “giặc dốt”, đem lại cơm no áo ấm cho toàn dân, trở thành điển hình của cả nước trong phong trào “Bình dân học vụ”. Bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, Hà Tĩnh lại dốc sức người sức của, cùng cả nước làm nên một Điện Biên “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Tên tuổi Anh hùng Phan Đình Giót mãi lưu danh với đời sau. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ, hy sinh, Hà Tĩnh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ “hậu phương của tiền tuyến miền Nam” “tiền tuyến của hậu phương miền Bắc”, đảm bảo thông đường thông xe vào Nam dưới mưa bom bão đạn. Những tên đất, tên người ở Hà Tĩnh đã đi vào trang sử chói lọi của dân tộc: Bến Thủy, Đồng Lộc, Khe Giao, Linh Cảm, Địa Lợi, Đèo Ngang, làng K130… Ngã Ba Đồng Lộc trở thành biểu tượng cao đẹp của chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng Việt Nam.

Kể từ ngày Triều Nguyễn lập tỉnh 1831, qua bao thăng trầm dâu bể, Hà Tĩnh hôm nay đang vươn mình lớn dậy, bừng sáng một dải non sông. Từ nền móng vững chắc của lịch sử - văn hóa hàng ngàn năm, các thế hệ người Hà Tĩnh đã quyết tâm chiến thắng đói nghèo, lạc hậu. Hà Tĩnh hôm nay đã vươn dậy sức vóc trẻ trung với những gam màu rực rỡ, tươi mới, đóng góp to lớn vào công cuộc đổi mới của đất nước cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI. Suốt một dải Lam Hồng từ Bến Thủy đến Đèo Ngang, đâu đâu ta cũng bắt gặp bức tranh non nước ngời sáng, tươi đẹp. Cầu Bến Thủy 1, Bến Thủy 2 đường bệ vắt qua dòng Lam, dẫn lối những cung đường như lụa dọc quốc lộ 1 A về Hồng Lĩnh, Can Lộc, Thành phố Hà Tĩnh (cũ) và ven biển Nghi Xuân, Lộc Hà, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh. Ngã ba Bãi Vọt xưa đầy cây vọt đan dày nay sầm uất giữa lòng đô thị phía Bắc, thành ngã tư ra bắc vào nam, về với Kinh đô Ngàn Hống, Chùa Hang, Đại Hùng, Thiên Tượng, ngược lên Đức Thọ, Hương Sơn qua cầu Linh Cảm. Nơi đó, vùng đất “văn thanh cảnh lịch” La Sơn, Đỗ Gia xưa không chỉ non nước hữu tình mà còn là nơi an nghỉ đời đời của những người con ưu tú: Hải Thượng Lãn Ông, Phan Đình Phùng, Trần Phú…

Nằm dọc quốc lộ 1A, vùng Ngạn Sơn, Trảo Nha xưa, nay là trung tâm xã Can Lộc đang đổi thay từng ngày trong dòng thác đổi mới của đất nước quê hương. Dấu tích nền Trang Vương và am Phật Bà xưa càng thêm nổi bật trong quần thể khu du lịch chùa Hương Tích đã được đầu tư mở rộng bởi các dự án lớn. Ngã Ba Đồng Lộc - khu di tích quốc gia đặc biệt trong hệ thống đường Trường Sơn trở thành điểm sáng trên bản đồ du lịch cả nước thu hút hàng triệu du khách tìm về. “Trường lưu bát cảnh” với các di sản cha ông được nâng tầm khu vực Châu Á - Thái Bình Dương minh chứng sự trường tồn bất biến của các giá trị văn hóa.

Với lợi thế 137 km bờ biển với hệ thống bãi tắm đẹp và trong lành, hải sản tươi ngon và phong phú, Hà Tĩnh đã khai thác và phát triển tiềm năng du lịch nhằm thay đổi cơ cấu thương mại - du lịch - dịch vụ, bên cạnh “xương sống” nông nghiệp - công nghiệp. Những địa danh Xuân Thành, Cửa Sót, Thiên Cầm, Kỳ Xuân, Kỳ Ninh… trở thành những điểm nhấn trên bản đồ du lịch Hà Tĩnh và cả nước.

Bức tranh non nước Hà Tĩnh hôm nay đẹp ngỡ ngàng không chỉ bởi những gì thiên nhiên mang lại mà chính là từ bàn tay, khối óc và triệu triệu giọt mồ hôi của con người kiến tạo nên. Để một vùng sa mạc hoang vu ngàn đời bên bờ biển Kỳ Lợi, Kỳ Phương, Kỳ Liên, Kỳ Phương và Vũng Áng, Eo Bạch, Sơn Dương trở thành khu kinh tế trọng điểm quốc gia, đón tàu hạng chục ngàn tấn ra vào, đón làn sóng đầu tư của nước ngoài vào, đưa chỉ số  FDI Hà Tĩnh vào thứ hạng cao của cả nước. Để đêm đêm sao trời hòa lẫn ánh đèn đêm câu mực và ánh sáng từ những con tàu lung linh soi bóng một vùng biển cực nam Hà Tĩnh. Để từ  trên đỉnh Hoành Sơn, phóng tầm mắt cả một vùng Đèo Ngang, nhớ về câu thơ của Bà Huyện, ai cũng có thể nhận ra nỗi niềm non nước của thi nhân đã lùi sâu vào dĩ vãng, thay vào đó là cảm xúc vui sướng trào dâng như câu hát: Một dải Lam Hồng núi sông trùng điệp, rừng vàng với biển bạc dào dạt trời thơ…

B.M.H

__________________

(*) Thành phố Hà Tĩnh theo dòng lịch sử - Nxb Chính trị quốc gia Sự thật. 6/2017

. . . . .
Loading the player...