12-09-2026 - 07:27

Bên dòng sông xưa cùng Nguyễn Viết Dưỡng

Tập thơ gồm 124 bài thơ, ôm chứa nhiều thể loại, từ lục bát, thất ngôn cho đến những hình thức thơ thoát thai từ dân ca Ví, Giặm độc đáo của xứ Nghệ, là một minh chứng sinh động cho sức lao động nghệ thuật bền bỉ của một con người khi đã bước vào độ tuổi xấp xỉ tám mươi. Tạp chí Hồng Lĩnh số 238+239 giới thiệu bài viết “Bên dòng sông xưa cùng Nguyễn Viết Dưỡng” (Bên dòng sông xưa, Nxb Đại học Vinh, 2025) của Nguyễn Thị Khánh Linh

Tập thơ gồm 124 bài thơ, ôm chứa nhiều thể loại, từ lục bát, thất ngôn cho đến những hình thức thơ thoát thai từ dân ca Ví, Giặm độc đáo của xứ Nghệ, là một minh chứng sinh động cho sức lao động nghệ thuật bền bỉ của một con người khi đã bước vào độ tuổi xấp xỉ tám mươi. Là một cựu cán bộ cao cấp ngành công an từng vào sinh ra tử để bảo vệ an ninh Tổ quốc, Nguyễn Viết Dưỡng trở về với thơ ca bằng một thế bút không chuộng sự cầu kỳ, chạm trổ, mà hướng đến sự mộc mạc, chân chất, phô diễn những cảm xúc nguyên bản nhất từ đáy lòng. Đọc tập thơ, ta thấy trào dâng một niềm đồng cảm sâu sắc với tình yêu quê hương đất nước, song song với quá trình đó, dưới góc độ phê bình văn học, người đọc cũng nhận ra những khoảng trống nhất định về mặt thi pháp mà một tác giả không chuyên khó lòng tránh khỏi. Bài viết này sẽ đi sâu vào phân tích, đánh giá cả hai mặt ưu và khuyết của tập thơ.

Để thấu hiểu được hồn thơ Nguyễn Viết Dưỡng, ta không thể không nhắc đến cái "nếp đất" đã thai nghén, nuôi dưỡng tâm hồn ông. Bất kỳ một cây thơ nào cũng có một miền quê để sâu rễ bền gốc, và với Nguyễn Viết Dưỡng, đó là làng Đan Chế xưa (trước là xã Thạch Long, nay thuộc xã Thạch Hà) - một vùng đất dẫu chưa đầy hai ki-lô-mét vuông nhưng lại ẩn chứa một bề dày trầm tích văn hóa đáng kinh ngạc: có đến 11 di tích văn hóa - lịch sử cấp tỉnh và cấp quốc gia; là nơi có tới ra 7 vị quận công, 3 tiến sĩ, 1 phó bảng thời xưa và hàng chục giáo sư, tiến sĩ thời nay. Đó cũng là vùng đất nổi tiếng với sinh hoạt văn nghệ dân gian Ví, Giặm gắn bó máu thịt với sinh hoạt làng nghề đan lát cổ truyền. Chính cái nếp đất "địa linh nhân kiệt" ấy đã truyền cho ông một mạch ngầm văn hóa dồi dào, một sức sống bền bỉ để dù có một thời gian dài tham gia lực lượng vũ trang xông pha trận mạc, ông vẫn giữ trọn một cõi linh hồn trong trẻo dành cho nàng thơ.

Ưu điểm nổi trội và xuyên suốt của tập thơ "Bên dòng sông xưa" chính là âm hưởng hoài niệm da diết về quê hương, và được thể hiện bằng một bút pháp tự tình hồn nhiên, tuôn chảy như chính dòng nước rào Nga, rào Trẻn quê nhà. Sông Nga, sông Trẻn trong thơ Nguyễn Viết Dưỡng là một sinh thể rất riêng, vừa tĩnh lặng bao dung, vừa ăm ắp những kỷ niệm thời thơ ấu: "Bến sông Rào Trẻn năm xưa/ Gió từ nơi ấy nắng mưa tháng ngày/ Bùi ngùi giây phút chia tay/ Hai hàng lệ nhỏ mắt cay chờn vờn". Tác giả dùng thể lục bát nhịp nhàng, êm ái để chuyên chở một nỗi nhớ chơi vơi. Quê hương hiện lên với những địa danh mộc mạc như "Đại Đồng - Gia Ngại - Đan Trung" , với "Miệu Hai Voi" uy nghi linh thiêng. Tác giả đã dùng sự giản dị của từ ngữ để chưng cất nên một thứ men say của tình yêu xứ sở.             

Dòng sông quê - Rào Nga, Rào Trẻn - chảy xuyên suốt tập thơ như một huyết mạch nuôi dưỡng hồn thơ tác giả. Trong bài thơ "Sông Nga tĩnh lặng", tác giả đã cất lên những vần thơ đầy hoài niệm, nhịp điệu êm đềm như chính con nước vơi đầy: "Sông Nga tĩnh lặng miền chân sóng/ Dào dạt bốn mùa gió tuổi thơ/ Ta lớn khôn bên dòng sông bồi lở/ Nước lấp lơi mùa lúa mới xanh bờ". Chữ "lấp lơi" được sử dụng khá đắt giá, nó không chỉ tả thực chuyển động của sóng nước vỗ vào đôi bờ mạ non, mà còn gợi lên sự trôi chảy vô tình của thời gian, nơi một đời người đã lớn lên, già đi bên dòng sông muôn thuở. Thơ Nguyễn Viết Dưỡng sống động và có hơi thở riêng bởi sự bình dị đó. Những vần thơ ấy đã lắng lòng người đọc, giúp họ tìm lại được sự thanh tịnh nguyên sơ giữa bao xô bồ của nhịp sống hiện đại.

Bên cạnh mảng đề tài quê hương, thì những vần thơ đẫm lệ viết về tình  đồng đội, nghĩa thầy trò và sự tri ân những người đã khuất đã tạo nên chiều sâu tư tưởng cho tập thơ. Từng cống hiến tuổi thanh xuân cho sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc, từng chứng kiến sự sống cái chết chỉ cách nhau trong gang tấc, hồn thơ Nguyễn Viết Dưỡng mang một độ nén của sự chiêm nghiệm sâu sắc. Vượt lên trên nỗi đau cá nhân, ông dành những vần thơ gan ruột nhất để tạc tượng cho những người anh hùng. Hãy lắng lòng mình trước những câu thơ trong bài "Viếng thầy giáo liệt sỹ Phan Văn Mỹ": "... Tình thầy giáo án bao la/ Niềm tin còn đó, quê nhà còn đây/ Chúng em học sinh của thầy/ Tâm hương tưởng niệm, lệ đầy làn mi". Bốn câu thơ dung dị nhưng sức nặng của nó nằm ở sự chân thành tuyệt đối. Hai chữ "tâm hương" đã gói trọn đạo lý tôn sư trọng đạo ngàn đời của dân tộc Việt Nam, thể hiện một nét đẹp văn hóa truyền thống không bao giờ mai một.

Xét về góc độ cách tân nghệ thuật, dù Nguyễn Viết Dưỡng chủ yếu sử dụng các thể thơ truyền thống với lối viết thiên về bộc trực cảm xúc chân thực, rõ ý rõ tình, nhưng không vì thế mà thơ ông thiếu đi sự lóe sáng của tư duy thơ hiện đại. Trong bài tựa, nhà báo Khắc Hiển đã tinh tế chỉ ra rằng bên cạnh sự chân chất, tập thơ có "khá nhiều bài hay, cách viết mới lạ, phóng khoáng về thể loại về cả lập ngôn, lập tứ". Ví dụ trong bài "Chớm thu", ông có một cái nhìn đầy chất tạo hình, phác họa không gian bằng ánh sáng và âm thanh vô cùng sắc nét: "Nắng hong ba tháng cạn hè/ Lưa thưa chợt thấy tiếng ve kêu buồn/ Đất vàng ai kẻ như khuôn/ Trưa nay/ Mưa ướt cánh chuồn chuồn...". Cấu trúc câu bị bẻ gãy ở dòng "Trưa nay", “Chớm thu” tạo ra những điểm dừng đột ngột trong nhạc điệu làm cho độ căng cảm xúc càng mạnh thêm. Đó là cái nhạy cảm của một hồn thơ không tuổi tác.      

Sẽ là thiếu khách quan nếu không nhìn nhận vào những điểm chưa thực sự đắc địa trong tập thơ, điều mà chính người viết lời tựa cũng đã nhẹ nhàng đề cập là "còn hạn chế về mặt nghệ thuật" ở một số bài. Việc ôm đồm một số lượng lớn 124 bài trong một lần xuất bản khiến tập thơ đôi chỗ rơi vào tình trạng tản mạn. Ở một số bài chủ yếu là mang tính chất kể lể, kỷ niệm phong trào, minh họa chủ trương, nôm na trong cách diễn đạt.

Đây là tập thơ của người lính già, luôn muốn ghi chép lại mọi sự đổi thay của quê hương, đất nước bằng một lăng kính mộc mạc và chân thành nhất. Thiết nghĩ, với một cây bút không theo con đường văn chương chuyên nghiệp, sáng tác chủ yếu để di dưỡng tinh thần, tri ân cuộc đời và lưu lại tấm lòng cho con cháu, thì những tỳ vết này hoàn toàn có thể được thể tất. Cùng với dòng chảy bất tận của Rào Nga, Rào Trẻn, tiếng thơ của Nguyễn Viết Dưỡng đọng lại trong lòng người đọc sự yêu mến và trân trọng.        

N.T.K.L

. . . . .
Loading the player...