10-06-2026 - 00:01

Hà Tĩnh với ba vùng “Bát Cảnh”

Tạp chí Hồng Lĩnh số 237 trân trọng giới thiệu bài viết Hà Tĩnh với ba vùng “Bát Cảnh” của Lê Văn Tùng

Bát cảnh, tức tám cảnh đẹp của một vùng nào đó được chọn ra như một “đặc sản” văn hóa để tôn vinh, ca ngợi. Bát cảnh thường được ghép thành bốn cặp, như những cặp câu đối. Rồi mỗi cảnh được xem như một đầu đề cho các nhà hội họa, các nhà soạn thơ, soạn nhạc và họ đã để lại những tác phẩm sống mãi với thời gian.

Bát cảnh là một mô thức thẩm mỹ - văn hóa rất phổ biến trong văn học, hội họa và địa chí ở Á Đông, đặc biệt là Trung Hoa rồi lan dần sang các nước khác, trong đó có Việt Nam. Có người cho rằng mô thức bát cảnh đầu tiên nổi tiếng nhất là “Tiêu Tương bát cảnh” của Trung Quốc, xuất hiện từ đời Tống (Thế kỷ XI, XII). Tám cảnh này gắn với vùng sông Tiêu và sông Tương. Ban đầu là đề tài thơ, sau được hội họa hóa, rồi trở thành khuôn mẫu để các vùng khác noi theo.

Nhưng vì sao lại là bát (8) cảnh? Việc người xưa chuộng bát cảnh hơn lục cảnh, cửu cảnh hay thập cảnh… là có cả nguyên nhân văn hóa, tư duy số học và nguồn gốc lịch sử. Nhưng chủ yếu là ba vấn đề sau đây:

1, Số 8 gắn với tư tưởng vũ trụ học, là con số hoàn chỉnh của tự nhiên:

Bát (8), là bát quái (càn, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn, đoài); là tám hướng, gồm 4 hướng chính (đông, tây, nam, bắc) + 4 hướng phụ  bao quát toàn bộ không gian, ngụ ý tóm lược mọi vẻ đẹp của trời đất trong một vùng.

2, Số 8 mang ý cân đối, hài hòa, không quá ít, không quá nhiều, dễ chia cặp, dễ sắp xếp, lại phù hợp với số câu của một bài thơ cổ thể, thất ngôn bát cú mà các tao nhân, thức giả xưa thường ngâm vịnh.

3, Bát so với các số khác:

- Lục (6), thường gắn với lễ nghi (lục lễ), không mang tính bao quát,

- Cửu (9), tượng trưng cho quyền lực, hoàng gia (cửu trùng), không phù hợp với cảnh nhàn tản.

- Thập (10), quá tròn đầy (thập toàn), mang tính khép kín, ít gợi mở về nghệ thuật…..

Trong nước ta cũng nhiều nơi có bát cảnh như Thăng Long bát cảnh, Sơn Nam bát cảnh, Kinh Bắc bát cảnh… Riêng Hà Tĩnh lại có đến ba vùng “Bát cảnh” được lưu vào sử sách. Đó là: Tỉnh thành bát cảnh, Nghi Xuân bát cảnh, Trường Lưu bát cảnh.

TỈNH THÀNH BÁT CẢNH

Tỉnh thành bát cảnh là 8 cảnh đẹp của vùng tỉnh thành Hà Tĩnh. Tuy cho đến nay chưa thấy có một văn bản nào phân tích, bình phẩm trọn vẹn đầy đủ 8 cảnh đẹp của tỉnh thành Hà Tĩnh, nhưng trong các bài viết về danh lam thắng cảnh của vùng này như sông Phủ, núi Nài, Tân Giang, Văn Miếu… thì lại thường có câu khẳng định thêm rằng “đây là một trong tỉnh thành bát cảnh”. Có những điểm ở xa tỉnh thành đến bốn năm cây số như Chùa Trò (Tịnh Lâm tự) thì trong văn bia chùa Tịnh lâm của Tuần phủ Tôn Thất Hân, khắc năm Thành Thái thứ 11 (Kỷ Hợi 1899), ngay từ câu mở đầu cũng đã ghi rõ; “Cổ Nghĩa Sơn tự, nay là Tịnh Lâm tự, thuộc xã Đức Lâm, huyện Thạch Hà. Núi Sò, chùa Tịnh Lâm là một trong tám cảnh đẹp của tỉnh thành Hà Tĩnh”.

Lễ hội Văn Miếu 2026. Ảnh: Báo Hà Tĩnh

Tám cảnh đẹp của tỉnh thành Hà Tĩnh xếp thành bốn cặp là:

- Liên thành cảnh sắc         - Võ Miếu linh từ

(Cảnh đẹp Thành Sen)      (Đền thiêng Võ Miếu)

- Cảm Lĩnh giai sơn           - Nài Giang tú khí

(Núi xinh Cảm Lĩnh)         (khí lành Nài Giang)

- Tân Giang đoãn thủy       - Văn Miếu trường thanh

(Sông ngắn Tân Giang)      (Tiếng lưu Văn Miếu)

- Tĩnh thị danh thương       - Tịnh Lâm cổ tự

(Chợ đẹp Hà Tĩnh)              (Chùa cổ Tịnh Lâm).

Tám cảnh đẹp này, từ xa xưa đã từng đi vào thơ ca nhạc họa. Sông Phủ sóng đôi với núi Nài, không biết từ bao giờ đã trở thành biểu tượng đẹp đẽ của một vùng quê ven đô, nghĩa tình và nhân hậu:

              Quê em sông Phủ, núi Nài,

              Tình cao hơn núi, nghĩa dài hơn sông.

Tiến sĩ Dương Thúc Hạp, một người đã từng du sơn, du thủy nhiều nơi, vậy mà mới bước chân đến Cảm Sơn (núi Nài),  đã phải thốt lên rằng:

              Lệ Sơn đông hạ nhất điều chi

              Sơn sắc thanh thương nhập thúy vi.

Lê Văn Tùng tạm dịch: Mạch từ Nhật Lệ hướng về xuôi,

               Sắc núi - bức tranh đẹp tuyệt vời.

Nhiều vị khách từng qua Tân Giang (Sông Cụt), tuy không ai còn biết tên tuổi nữa, nhưng tình cảm của họ thì vẫn lưu lại mãi trong những vần thơ đầy cảm xúc:

              Trên bộ dập dìu xe cộ nhoáng,

              Dưới thuyền thấp thoáng cánh buồm bay.

              Lâu đài tráng lệ thưa mà đẹp,

              Phố xá tầm thường ngó vẫn say.

Rồi chỉ một đôi câu đối còn lại trong chùa cổ Tịnh Lâm cũng phần nào diễn tả được cảnh nước mây kỳ thú nơi này:

              Từ hàng sơ độ giang ba nguyệt,                   

              Báu tọa trùng khai thạch tỉnh vân.

Thái Kim Đỉnh dịch:  Thuyền từ vượt sóng sông trăng đó,

                              Tòa báu vờn mây núi đá đây.

Đó là chưa kể những dấu ấn lịch sử sâu đậm, những di tích, di chỉ mãi còn đó về những địa danh Tân Giang, Võ miếu, sông Phủ, núi Nài, Tịnh Lâm, Văn Miếu…

NGHI XUÂN BÁT CẢNH

Nghi Xuân là một vùng có nhiều danh lam, thắng cảnh, một vùng văn hóa với nhiều di sản vật thể và phi vật thể. Nghi xuân có tám cảnh đẹp gắn với núi sông đồng biển, mà ai từng qua đây cũng đều ngưỡng mộ. Tám cảnh đẹp đó là:

1, Núi Hồng, “Chín chín tòa đồ sộ/ Nguy nga trấn một vùng”.

2, Cửa Hội, xưa có tên là Đan Nhai, những buổi chiều thuyền buồm về trong ráng hồng rất đẹp.

3, Đảo Hòn Ngư ngoài khơi như một đôi cá đang đùa giỡn với nước.

4, Hòn núi Mỏ Hạc, núi Bà, ở làng Tam Đăng xưa, sau này là xã Xuân Hồng, có hình thù như một con nghé lẻ (cô độc) đang lội chân xuống rào.

5, Bến đò cổ Giang Đình. Theo nhà nghiên cứu Võ Hồng Huy thì Giang đình có nghĩa là đình đón đợi, cũng như vọng lâu là cái lầu trông chờ.

6, Cồn Mộc, tức bãi nổi giữa sông Lam, đoạn hạ lưu Bến Thủy, từ xa xưa đã là một ngôi làng sầm uất, làng Báu Lâm rất đẹp. Cồn Mộc khi được Hán hóa viết thành Quần Mộc, về sau vùng này thuộc xã Xuân Hồng cũ.

7, Chùa Uyên Trừng, tên thường gọi là chùa Giằng ở làng Tam Xuân Hạ xưa, về sau thuộc xã Xuân Hồng.

8, Chợ Hoa Phẩm nổi tiếng hàng hóa nhiều, người đông đúc, trù phú. Hoa Phẩm  còn gọi là chợ Chế thuộc xã Xuân Lam cũ,

Tám cảnh đẹp ấy được xếp thành bốn cặp rất cân xứng:

- Hồng Sơn liệt chướng               - Đan Nhai quy phàm

(Núi Hồng thành dựng)        (Cửa Hội buồm về).

- Song Ngư hý thủy                     - Cô độc lâm lưu

(Đôi cá giỡn nước)                        (Con nghé lẻ lội rào).

- Giang Đình cổ độ             - Quần Mộc bình sa

(Bến đò cổ Giang Đình)        (Bãi cát bằng Quần Mộc).

- Uyên Trừng danh tự                  - Hoa Phẩm thắng triền

(Chùa Uyên Trừng cảnh đẹp)       (Chợ Hoa Phẩm người đông).

Đã có khá nhiều thơ ca viết về tám cảnh đẹp này, trong đó học giả, tiến sĩ Bùi Dương lịch (1757 – 1828), một danh nhân văn hóa tầm cỡ quốc gia đã có tám bài thơ chữ Hán vịnh bát cảnh của Nghi Xuân mà Giáo sư Phan văn Các cho rằng mỗi bài thơ là một bức tranh đẹp, giúp người đọc khi thì được thả hồn mình bay bổng cùng thi nhân trước bức tranh hoành tráng mà tạo hóa đã kỳ công sáng tạo nên trên chín mươi chín đỉnh non Hồng; Khi lại mơ màng trong tiếng sáo thanh bình dưới cánh buồm cửa Hội; Khi được hưởng phong vị thôn dã của Cồn Mộc, một bãi nổi giữa sông Lam, đoạn hạ lưu gần Bến Thủy; Khi lại được chiêm ngưỡng quang cảnh độc đáo của chùa Giằng (Uyên Trừng tự) ở làng Tam Xuân Hạ…

Sau đây xin trích đăng một trong tám bài vịnh của Bùi Dương Lịch, bài “Đan Nhai quy phàm”(1), phần dịch thơ của Võ Hồng Huy, một bài dịch nguyên thể, được Giáo sư Phan Văn Các đánh giá “gần như toàn bích”:

                           CỬA HỘI BUỒM VỀ

              Muôn khoảnh tà dương ráng ửng hồng

              Thuyền về lớp lớp, hướng theo dòng

              Càng tôm vẩy vẩy, chao lòng sóng(2)

              Cánh bướm chờn vờn, lóa mắt sông(3)

              Ngàn Cả triều lên, nồm biển dậy

              Hòn Ngư nước lạnh, bóng chiều buông

              Thanh bình khúc sáo thuyền ai đó

              Trời biển thênh thênh, đẹp lạ lùng!

Chú thích:       (1) Đan Nhai: Tên cũ của Cửa Hội.

              (2) Ý nói những mái chèo.

              (3) Ý nói những cánh buồm.

                                 TRƯỜNG LƯU BÁT CẢNH

Đó là tám cảnh đẹp của làng Trường Lưu, tổng Lai Thạch, huyện Thiên Lộc xưa, nay thuộc xã trường Lưu, Hà Tĩnh. Tám cảnh đẹp đó thuộc các điểm sau đây của làng: Chợ Quan, núi Phượng, Chùa Hân, kho Nghĩa Thương (kho thóc do dân làng chắt chiu đóng góp, dự trữ để giúp đỡ nhau khi khó khăn đói kém), miếu Cổ, Hồ Sen, Giếng Thạc, vườn Nguyễn.

Tám cảnh trên, mỗi cảnh vốn đã mang những vẻ đẹp đặc sắc riêng có, lại còn được đặt vào những thời điểm, những hoàn cảnh đặc biệt nữa nên giá trị thẩm mỹ càng được nhân lên gấp bội. Ví như Chợ Quan dưới ráng hồng buổi sớm (Quan thị triêu hà) thì vẻ đẹp lại càng thêm rực rỡ. Núi Phượng phải đến lúc chiều tà (Phượng Sơn tịch chiếu) thì mới cho mọi người cảm nhận hết cái vẻ đẹp của “Non phơi bóng vàng” . Chùa Hân vốn đã là nơi “thiền môn u nhàn”rồi,  khi tiếng chuông dóng dã, vang vọng lên trong thinh không sương sớm (Ngân tự hiểu chung) thì càng tăng thêm sự an nhiên, thâm nghiêm, thanh tịnh….

Tám cảnh đó được xếp thành bốn cặp:

- Quan thị triêu hà               - Phượng Sơn tịch chiếu

(Ráng sớm Chợ Quan )                   (Nắng chiều núi Phượng ).

- Cổ miếu âm dung             - Liên Trì nguyệt sắc

(Bóng râm Cổ miếu)              (Trăng chiếu hồ sen)

- Thạc Tỉnh hương truyền            - Nguyễn trang hoa mỹ

(Giếng Thạc hương lan)                    (Vườn Nguyễn hoa đẹp)

- Hân tự hiểu chung             - Nghĩa Thương mộc đạc

(Chuông (sáng) vọng chùa Hân )    (Mõ vang kho Nghĩa  ).

Một bài thơ thất ngôn bát cú từ lâu đời được truyền tụng khắp vùng đã vẽ nên một bức tranh tuyệt vời của “Trường Lưu bát cảnh”:

              Ráng bạc chợ Quan lúc tảng sáng

              Nắng viền núi Phượng lúc hoàng hôn

              Chùa Hân buổi sớm hồi chuông gọi

              Kho nghĩa chiều hôm tiếng mõ dồn

              Rậm rạp bóng cây che miếu cổ

              Lung lay bóng nguyệt chiếu hồ sen

              Nguyễn trang hoa đẹp nhìn ưa mắt

              Giếng Thạc dòng thơm uống tỉnh hồn.

“Bát cảnh” ở đây, tuy mới chỉ là những nét chấm phá, nhưng cũng đã vẽ nên một làng quê Trường Lưu toàn diện: Có sáng, trưa, chiều, tối; có núi, ao. giếng, chợ; có miếu, chùa, trang trại, kho tàng; có ráng sớm, nắng chiều, có chuông ngân, mõ dục, có tình người đỡ đần nhau khi rách áo, đói cơm. Một làng quê yên ả, trù phú ẩn chứa biết bao vỉa tầng văn hóa làng rất đáng quý, đáng trọng. Một vùng quê nghĩa tình, bình dị, an nhiên, rất đáng yêu, đáng sống. Phải chăng vì thế mà từ xa xưa những người ly hương lâu ngày đã bảo ban nhau:

              Sao chẳng quay về vườn ruộng cũ,

              Trúc vàng trăng sáng gió mông mênh

                                                    (Phạm Quang Hòa)

    Cứ mỗi lần đọc lại các vùng “bát cảnh” của tỉnh nhà mà tiền nhân đã từng ghi vào sử sách, lại thêm một lần chúng ta càng yêu quý hơn vùng “non nước Hồng La”, quê hương yêu dấu của mình.

Những “bát cảnh” trên đây có cái nay chỉ còn lại dấu tích, nhưng nhiều cảnh đã trở thành di tích văn hóa lịch sử cấp tỉnh, cấp quốc gia. Phải chăng đó là những tiềm năng du lịch phong phú rất đáng quý của quê hương Hà Tĩnh mà đến nay chúng ta vẫn chưa khai thác hết.

L.V.T

. . . . .
Loading the player...