Tạp chí Hồng Lĩnh số 236 tháng 4/2026 trân trọng giới thiệu bài viết “Điều ở” - bản sắc nhân cách văn hóa của Cố Chủ tịch Nguyễn Ký của tác giả Phạm Quang Ái (Bài viết nhân dịp 6 năm ngày mất của Cố Chủ tịch tỉnh Hà Tĩnh Nguyễn Ký, 21/4/2020 - 21/4/2026)
Giai đoạn chuyển mình từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang thời kỳ đổi mới và tái lập các đơn vị hành chính, có những nhân cách đã để lại dấu ấn không chỉ bằng những công trình vật chất hữu hình mà còn bằng một di sản tư tưởng, được đúc kết từ thực tiễn gian khổ và trí tuệ mẫn tiệp. Cố Chủ tịch Nguyễn Ký (1939 - 2020), nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh, nguyên Phó Trưởng ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, là một con người mang tầm vóc như thế. Qua ba tập sách mà ông đã xuất bản: Góp nhặt gần xa (NXB Hội Nhà văn, 2012), Góp nhặt rông dài (NXB Hội Nhà văn 2016) và Góp nhặt lai rai (NXB Nghệ An, 2019), chân dung của một nhà lãnh đạo hành động mang tâm hồn nghệ sĩ và tư duy triết học đã hiện lên một cách sống động và vô cùng giàu cảm hứng. Những tác phẩm này không thuần túy chỉ là những ghi chép sự vụ khô khan, mà thực sự là một cuộc hành trình tâm linh và trí tuệ của một người con xứ Nghệ trưởng thành từ cơ sở, đi qua khói lửa chiến tranh tại "tuyến lửa" Kỳ Anh rồi trở thành chính khách cao cấp cho đến khi đứng trên đỉnh cao của công tác nghiên cứu chính sách quốc gia vẫn không thôi đau đáu về đạo làm người mà ông gọi một cách mộc mạc là "Điều ở".
.jpg)
Nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Ký (Ảnh tư liệu)
Nhìn vào cội rễ, tâm hồn Nguyễn Ký trước hết là tâm hồn của một đứa trẻ nghèo đã vươn lên vượt qua nạn đói, lớn lên trong muôn vàn gian khó để rồi thấm nhuần tư tưởng vị nhân sinh một cách hết sức tự nhiên. Chính sự va đập và quan sát thực tiễn cuộc sống đầy khắc nghiệt đã nhào nặn nên một Nguyễn Ký luôn biết lấy sự chân thật và lòng nhân ái làm kim chỉ nam cho mọi hành động. Xuyên suốt cả cuộc đời của mình, ông luôn mang trong lòng một nỗi thao thức khôn nguôi về "Điều ở". Với ông, đây không chỉ là một phương ngữ dân dã mà đã được nâng tầm thành một triết lý nhân sinh vô cùng sâu sắc. Ông từng kể lại lời dạy thiết tha của mẹ mình rằng sống trên đời cái khó nhất là "Điều ở", nghĩa là từ khi lọt lòng đến khi nhắm mắt, con người phải biết đối nhân, xử thế hài hòa trong mối quan hệ giữa người với người. Ông quan niệm một cách sâu sắc rằng đó chính là tấm gương phản chiếu trình độ văn hóa của mỗi con người, là bản sắc cốt lõi của một dân tộc mà ở đó cái quá khứ được tồn tại, duy trì và nâng cao trong hiện tại và tương lai. Tính cách sòng phẳng, trọng nghĩa khinh tài của Nguyễn Ký càng được thể hiện rõ nét khi ông bàn luận về sự giàu sang trong xã hội, luôn nhắc nhở bản thân không bao giờ được đổi danh dự lấy tiền tài, bởi đức hạnh bao giờ cũng còn lại, còn tiền bạc có rồi lại hết.
Bên cạnh bản lĩnh thép, Nguyễn Ký còn mang trong mình một tâm hồn nhạy cảm, dễ dàng rung động trước những giá trị nhân văn cao thượng. Bài viết xúc động của ông về hành trình tìm kiếm cuốn nhật ký của nữ bác sĩ Đặng Thùy Trâm là một minh chứng rõ nét cho lòng từ bi và sự thấu cảm. Trái tim ông đã thực sự xúc động trước lời nhắn nhủ của người lính phía bên kia chiến tuyến rằng cuốn nhật ký đã có lửa trong đó, đừng đốt nó. Ông trân trọng coi đó là một bài học lớn về sự cảm hóa, về chân lý rằng mỗi lần trò chuyện phải ghé vai đẩy cánh cửa tâm hồn. Tâm hồn rộng lớn ấy còn được tưới tẩm bởi những triết lý Phật giáo uyên thâm về luật nhân quả và lòng từ bi, nhưng ông không xem đạo Phật như một tôn giáo huyền bí mà nhìn nhận nó là một khoa học về đạo làm người. Tư tưởng “không có giai cấp trong dòng máu cùng đỏ và dòng nước mắt cùng mặn” khiến ông đặc biệt tâm đắc, coi đó là nền tảng vững chắc cho sự bình đẳng xã hội. Đối với tư duy lãnh đạo, ông cho rằng yếu tố bên trong con người mang tính quyết định, sự trong sạch hay ô nhiễm đều tự nơi ta, điều này giải thích tại sao ông luôn đề cao tinh thần trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu.
Khi nhắc về Nguyễn Ký, lịch sử không thể không khắc ghi giai đoạn 1991 - 1996, thời điểm ông dũng cảm gánh vác vai trò Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh khóa đầu tiên ngay sau khi tỉnh được chia tách từ Nghệ Tĩnh. Ông từng mô tả thời kỳ đầy biến động này là giai đoạn "vừa chạy vừa xếp hàng", một bối cảnh ngổn ngang với những thách thức chưa từng có tiền lệ. Sau 15 năm sáp nhập, lúc trở về hình hài cũ, Hà Tĩnh gần như phải bắt tay gây dựng lại mọi thứ từ con số không. Những dòng văn ông viết chân thực đến mức khiến người đọc như cảm nhận được cái lạnh thấu xương của sự thiếu thốn, từ việc lo nơi ăn chốn ở cho hàng ngàn người đến việc khắc phục những sự cố cháy chùa, sập cầu, cháy chợ. Bằng ngòi bút sắc sảo, ông ghi lại những con số thống kê nghiệt ngã của thời kỳ đó: thu nhập bình quân đầu người chưa đến 70 USD/năm, tỷ lệ hộ đói nghèo lên tới 53%, cơ sở hạ tầng nghèo nàn với một đường dây điện phập phù và nguồn lương thực tồn kho cạn kiệt. Hành trang tách tỉnh chỉ vỏn vẹn hơn 2 tỷ đồng và chưa đầy 2kg vàng. Thế nhưng, chính trong tận cùng của cái nghèo nàn ấy, tính cách quyết liệt, dám nghĩ dám làm của ông đã tỏa sáng. Ông cùng tập thể ban lãnh đạo đã nhanh chóng xác định mũi nhọn chiến lược là tập trung toàn lực cho nông nghiệp để giải quyết bằng được cái đói, cái nghèo cho nhân dân.
Một trong những kỷ niệm đẹp đẽ nhất đọng lại trong văn của Nguyễn Ký là những lần ông vinh dự tháp tùng cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đi khảo sát thực tế tại Hà Tĩnh. Qua giọng kể của ông, hình ảnh một vị Chủ tịch tỉnh sâu sát cơ sở và một vị Thủ tướng tâm huyết hiện lên thật sắc nét. Ký ức về chuyến đi vượt qua bãi cát cháy tiến vào xã Thạch Hải vẫn in đậm khi một người dân nghèo nói với Thủ tướng rằng họ là "dân tộc biển" vì thiếu thốn đủ đường. Cụm từ "dân tộc biển" chua xót ấy đã trở thành một nỗi ám ảnh lớn trong tâm trí Nguyễn Ký. Ông ghi lại lời Thủ tướng dặn rằng: để dân nói thật thì lãnh đạo phải thực lòng muốn nghe, và đó là trách nhiệm phải làm như thế nào để dân không còn khổ. Lời căn dặn ấy đã thôi thúc ông dồn toàn bộ tâm trí để kiến tạo nên các công trình tầm cỡ như thủy lợi Sông Rác, nâng cấp hồ Kẻ Gỗ, cảng nước sâu Vũng Áng, đê La Giang... với khát vọng cháy bỏng nhằm thay đổi số phận của hàng vạn con người. Sự nghiệp chèo lái tại Hà Tĩnh đã khẳng định hình ảnh một nhà lãnh đạo với phong cách hành động thực tiễn, luôn đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết.
Giai đoạn công tác tại Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ là cơ hội bộc lộ một Nguyễn Ký với tầm vóc tư duy triết học, pháp lý và kinh tế sắc sảo. Văn chính luận của ông giai đoạn này là sự kết tinh giữa lý luận khoa học hiện đại và hơi thở sinh động của thực tiễn. Ông là một trong những người sớm hình thành ý thức sâu sắc về việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, không dừng lại ở khẩu hiệu mà đi sâu vào nghiên cứu tinh túy học thuật nhân loại. Ông mạnh mẽ khẳng định nguyên lý “Ở đâu có quyền lực ở đó phải có chế định quyền lực để hạn chế sự tha hóa”. Tầm nhìn thời đại của ông thể hiện qua quan điểm nhà nước pháp quyền phải gắn liền với xã hội dân sự và nền kinh tế thị trường. Đặc biệt, bài viết về trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cơ quan hành chính là một đỉnh cao trong tư duy quản trị. Ông phê phán gay gắt tình trạng làm việc nhập nhằng, dựa dẫm vào tập thể để che đậy sự yếu kém cá nhân. Ông đưa ra những tiêu chí khắt khe: quyết định hành chính phải đúng pháp luật và hợp lòng dân, quản lý cán bộ phải công tâm, và người lãnh đạo phải biết tự trọng, sẵn sàng rút lui khi không còn đủ tín nhiệm. Những nguyên tắc này phản ánh cốt cách của một con người chính trực, luôn đặt danh dự cao hơn quyền lực.
Song hành cùng nhãn quan chính trị là một tầm nhìn chiến lược về phát triển bền vững, đặc biệt là những trăn trở giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường. Trong giai đoạn các siêu dự án công nghiệp được tung hô, Nguyễn Ký vẫn giữ cái đầu lạnh để đặt ra những câu hỏi phản biện đầy trách nhiệm. Ông nhắc nhở rằng con người không được vì lợi ích thiển cận mà tàn phá môi trường, dẫn đến hậu họa cho đời sau. Ông dày công nghiên cứu bài học từ quốc tế để cảnh báo không được quá tin vào các báo cáo môi trường của nhà đầu tư. Giải pháp ông đề xuất là chiến lược "Kinh tế xanh", ưu tiên công nghệ cao, tiết kiệm năng lượng và đặc biệt phải bảo vệ bằng được đất trồng lúa, không để tình trạng lấp ruộng lúa tùy tiện để xây dựng công trình. Ông khát vọng kiến thiết Hà Tĩnh trở thành một trung tâm văn hóa, nơi con người chính là lợi thế cạnh tranh lớn nhất, để người Hà Tĩnh đi đâu cũng được mến mộ, tin dùng và luôn muốn trở về quê hương.
Sự suy sâu biết rộng của Nguyễn Ký còn đến từ khát vọng học tập suốt đời. Những trang viết về trải nghiệm tại Thụy Điển, Nhật Bản hay các nước Đông Nam Á bộc lộ năng lực quan sát tinh tế. Tại Thụy Điển, ông khâm phục sự minh bạch tuyệt đối của nơi quyền lực thực sự thuộc về nhân dân. Tại Nhật Bản, ông nhìn thấu nhân cách người Nhật qua triết lý không làm phiền người khác và ý thức bổn phận cao cả. Ông dũng cảm thừa nhận những thiếu sót của người Việt về tính cộng đồng để từ đó trăn trở về việc rèn luyện đội ngũ cán bộ. Với ông, học tập là đạo học chân chính để làm người, là nền tảng dẫn dắt cuộc đời. Ông đề cao văn hóa đọc, xem sách vở là kho tàng trí tuệ và lo sợ một xã hội lười tư duy nếu chỉ mải mê với văn hóa nghe nhìn. Văn phong của ông là sự hòa quyện giữa lý trí sắc sảo và tâm hồn nghệ sĩ đa cảm; ông khước từ lối viết sáo rỗng để dùng thứ ngôn ngữ chân thành từ xương máu thực tiễn. Ông có biệt tài chuyển hóa những vấn đề chính sách phức tạp thành hình ảnh so sánh gần gũi, đan xen thơ ca, ca dao, tục ngữ để văn chính luận trở nên mềm mại, dễ đi vào lòng người.
Sức mạnh trong trang viết của Nguyễn Ký còn đến từ thái độ sống yêu ghét sòng phẳng, rạch ròi. Ông ghét sự dối trá, thói bạo ngược và nạn nịnh bợ, đồng thời trân trọng những người có lý tưởng cách mạng trong sáng. Ông không ngần ngại phơi bày những sai lầm thời bao cấp hay những quan niệm ấu trĩ về giai cấp và đấu tranh giai cấp. Chính sự trung thực ấy tạo nên giá trị giáo dục sâu sắc qua các trang văn của ông. Dù nhìn thấy cái xấu, ông vẫn giữ niềm tin bất diệt vào bản ngã thiện lương của con người. Sự khiêm nhường của ông thể hiện qua cách ông viết về những người bạn lớn như nhà thơ Việt Phương, nhà tư tưởng Nguyễn Trần Bạt hay linh mục Nguyễn Đình Thi. Ông luôn tự nhận mình là người học trò để sẻ chia và tiếp thu những tinh túy trí tuệ từ họ, coi đó là "nắm cơm ăn đường" quý báu trên hành trình tìm kiếm chân lý. Những tình cảm chân thành ấy cho thấy một tâm hồn luôn mở rộng để đón nhận những giá trị nhân văn cao cả không phân biệt tôn giáo hay quan điểm chính trị, miễn là điều đó vì sự tiến bộ của con người.
Cố Chủ tịch Nguyễn Ký đã đi xa nhưng di sản ông để lại vẫn vẹn nguyên giá trị. Ba tập bút ký của ông không chỉ là những trang sử sinh động, chân thật của một vùng đất mà còn là hệ thống tư tưởng về đạo làm người và đạo làm quan. Hình ảnh một vị Chủ tịch tỉnh quyết liệt nhưng đầy lòng trắc ẩn, một trí thức uyên bác, một tâm hồn giàu cảm xúc, luôn đau đáu với vận mệnh quê hương sẽ mãi là tấm gương sáng. Cái "chút thơm thảo" mà ông khiêm nhường gửi lại chính là tư tưởng "Điều ở" - sống sao cho xứng với danh xưng con người, sống để giải thoát dân mình khỏi nghèo nàn lạc hậu. Đó là lời nhắn nhủ đầy trách nhiệm cho các thế hệ sau về việc giữ gìn nhân cách và trí tuệ trong công cuộc dựng xây đất nước.
Cố Chủ tịch Nguyễn Ký đã sống một cuộc đời trọn vẹn, và những dòng chữ của ông để lại sẽ tiếp tục sứ mệnh thức tỉnh những hạt giống tích cực trong tâm thức mỗi chúng ta, đóng góp vào sự phát triển của một xã hội nhân văn, bền vững và thấm đẫm tình người. Chân dung ông, từ một đứa trẻ vượt qua nạn đói đến vị lãnh đạo tầm cỡ quốc gia, chính là minh chứng sống động nhất cho sức mạnh của tri thức và lòng nhân ái Việt Nam. Di sản ấy sẽ còn mãi với núi Hồng sông La, với những con người vẫn đang ngày đêm trăn trở vì một Hà Tĩnh giàu đẹp và một Việt Nam hùng cường.
P.Q.A