21-05-2026 - 00:30

Điện Biên - hành trình về miền lịch sử

Tạp chí Hồng Lĩnh số 237 tháng 5/2026 trân trọng giới thiệu ghi chép “Điện Biên - hành trình về miền lịch sử” của Lê Ngọc Sơn

Chuyến xe đêm đưa tôi đến Điện Biên sau khi vượt qua bao nhiêu núi, bao nhiêu đồi gập ghềnh. Có lúc xe giật thót tim, tưởng chừng lao vào một khoảng hư không, rồi lại chồm lên phía trước. Qua ô cửa kính còn đọng mờ sương khi trời vừa rạng sáng, tôi bỗng thấy nao lòng khi bắt gặp những hàng hoa ban trắng trải dọc hai bên đường nơi cửa ngõ thành phố Điện Biên. Càng đi sâu vào trung tâm, hoa ban càng nhiều, đường xá và nhà cửa cũng trở nên đông đúc hơn, mang dáng dấp của một thành phố hiện đại.

Điện Biên trong những trang sách tôi đã đọc là những quả đồi, những cụm cứ điểm; là sân bay Mường Thanh, sân bay Hồng Cúm; là con sông Nậm Rốm uốn mình chảy quanh. Nhưng trước mắt tôi lúc này là một thành phố mà có lẽ, ngay cả trong ước mong về một ngày hòa bình trước khi bước vào trận chiến, cha ông ta cũng khó hình dung được lại tươi đẹp đến vậy. Thành phố hôm nay nằm trọn trong lòng chảo Mường Thanh, với đại lộ trung tâm mang tên người đã trở thành huyền thoại - Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Tôi nhớ đến vùng lòng chảo này qua một hình ảnh thật thú vị: khi Chủ tịch Hồ Chí Minh lấy ngay chiếc mũ che nắng đang đội trên đầu để giải thích một cách trực quan, sinh động cho một phóng viên nước ngoài. Vành mũ ở phía trên là núi rừng, nơi có quân đội Việt Minh; còn lòng mũ chính là thung lũng Điện Biên Phủ, nơi quân Pháp đã xây dựng một “pháo đài bất khả xâm phạm”. Người Pháp không thể thoát ra được, dù có thể cầm cự thêm một thời gian ngắn. “Một thời gian ngắn” mà Bác từng tiên đoán ấy chính là:

Năm mươi sáu ngày đêm, khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt

Máu trộn bùn non

Gan không núng

Chí không mòn!

                       (Tố Hữu)

Tôi biết đến Điện Biên còn qua bộ phim Hoa ban đỏ, mà đến bây giờ vẫn không thể nào quên được hình ảnh chiến đấu anh dũng của hai người lính. Trong chiến hào đẫm bùn và máu, một người đã bị mù nhưng tay vẫn còn cầm được súng; người kia mắt còn sáng nhưng cả hai tay đều bị thương. Hai anh, một người chỉ đường, một người bóp cò, phối hợp với nhau để tiêu diệt kẻ thù, rồi cùng ngã xuống nơi chiến hào. Dòng máu đào đỏ tươi thấm vào lòng đất mẹ giữa mùa hoa ban nở. Có lẽ vì thế mà bộ phim mang tên Hoa ban đỏ, màu đỏ của máu, của sự hy sinh và bất tử.

Quần thể di tích chiến trường Điện Biên Phủ. Ảnh: PV 

Các di tích lịch sử của trận đánh “chấn động địa cầu” năm xưa. Những địa điểm nổi tiếng như Đồi A1, Đồi C1, Đồi D1, Tượng đài Chiến thắng, Hầm De Castries… đều nằm ngay trong lòng thành phố, nên việc tham quan khá dễ dàng và thuận tiện. Sự đan xen giữa hiện đại và lịch sử đã tạo nên một dấu ấn rất riêng cho Điện Biên, điều mà ít nơi nào có được. Tôi thực sự xúc động khi đứng tại miệng hố bộc phá trên đồi A1, nghe cô thuyết minh kể lại những phương án kích nổ khối bộc phá nặng 960 kg, thành quả của biết bao mồ hôi, xương máu mà bộ đội ta đã dốc sức đào hầm. Ở phương án cuối cùng, nếu việc điểm hỏa từ xa không thành công, sẽ có một chiến sĩ cảm tử trực tiếp tiếp cận để kích nổ tại chỗ. Cái chết, với những con người chiến đấu vì quê hương, vì đất nước năm ấy, dường như trở nên nhẹ nhàng mà thiêng liêng đến lạ. Trong dòng người tham quan, tôi thấy có rất nhiều bác cựu chiến binh mặc quân phục. Có lẽ họ không trực tiếp tham dự trận đánh năm xưa, mà thuộc về những thế hệ sau, những người đã đi qua thời chống Mỹ hay các cuộc chiến tranh biên giới. Nhưng đã là người lính, hẳn không ai không một lần mong muốn được đặt chân tới chiến trường làm nên tên tuổi của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam; nơi đã góp phần làm nên chiến thắng mang lại độc lập cho dân tộc sau hơn 80 năm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, dù rằng non sông khi ấy vẫn chưa thể liền một dải.

Trong dòng người hôm nay còn có nhiều em học sinh nhỏ. Các em thích thú trước hình ảnh chiếc xe tăng đứt xích, nhưng rồi bỗng trở nên chăm chú, lặng đi khi cô thuyết minh chỉ sang ngôi mộ tập thể vô danh ngay bên cạnh, nơi bốn chiến sĩ đã ngã xuống sau khi bắn cháy chiếc xe tăng ấy. Không gian chùng xuống. Tất cả gần như nín lặng khi cô cất giọng đọc:

“Nhẹ bước chân và nói khẽ thôi,

Ai rộng sao đồng đội tôi nằm chật,

Mỗi tấc đất là cuộc đời có thật,

Cho hôm nay tôi đến nghẹn ngào.”

Bảo tàng Chiến thắng Điện Biên Phủ, nằm đối diện Nghĩa trang liệt sĩ A1. Ngay từ bên ngoài, công trình đã gây ấn tượng với thiết kế mô phỏng chiếc mũ nan lưới của người chiến sĩ Điện Biên năm xưa. Bước vào bên trong, tôi choáng ngợp và dâng trào niềm tự hào khi được chiêm ngưỡng bức tranh tường panorama đồ sộ, gồm bốn trường đoạn tái hiện toàn bộ chiến dịch Điện Biên Phủ bằng những lớp tranh liên hoàn sống động. Tôi đặc biệt ấn tượng với trường đoạn mở đầu, “Toàn dân ra trận”. Đó là những hình ảnh bình dị mà lay động: người dân bản xách lồng gà, dắt lợn đem góp cho bộ đội; những đoàn xe đạp thồ huyền thoại nối dài; và những hàng người lặng lẽ dùng sức mình kéo pháo vào trận địa. “Dễ trăm lần không dân cũng chịu,/Khó vạn lần dân liệu cũng xong.”. Lời dạy của Hồ Chí Minh dường như hiện lên rõ nét trong từng chi tiết của bức tranh. Với quy mô hơn 3.000m², tái hiện khoảng 4.500 nhân vật, được thực hiện bởi hơn 200 họa sĩ, bức panorama thực sự tương xứng với tầm vóc của một trận đánh hào hùng trong lịch sử dân tộc. Đứng giữa không gian ấy, tôi nhận ra trong dòng người tham quan hôm đó, ánh mắt ai cũng rưng rưng, lấp lánh một niềm tự hào khó giấu.

Trên con đường 279 rời thành phố để lên thăm đèo Pha Đin, một trong “tứ đại đèo” của Việt Nam, tôi dừng lại trước tượng đài kéo pháo, lặng ngắm và hồi tưởng về chiến công năm xưa. Tượng đài bằng đá xanh khắc họa những người lính pháo binh đầu đội mũ nan lưới, khoác áo trấn thủ, chân đi giày ba ta; trên đầu là khoảng trời mở ra qua những tán rừng. Họ đang dồn hết sức lực để kéo khẩu pháo nặng nề vượt qua con dốc hiểm trở. Những khẩu lựu pháo 105 mm, nặng tới 2,2 tấn, đã trở thành bất ngờ lớn đối với kẻ thù và là yếu tố hỏa lực quan trọng góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ. Quyết định khó khăn nhất trong đời cầm quân của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, theo chính ông chia sẻ, là đêm trắng suy nghĩ để chuyển từ phương án “đánh nhanh, thắng nhanh”, đã được Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tham mưu phê duyệt, với sự nhất trí của đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc, sang phương án “đánh chắc, tiến chắc”. Và sau quyết định ấy, pháo được kéo ra khỏi trận địa. Kéo pháo vào đã khó, kéo pháo ra còn gian nan gấp bội.

Một buổi chiều lạnh, sương bụi bay lất phất, tôi tìm đến Mường Phăng, thăm khu di tích Sở Chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Dưới tán rừng cổ thụ mát rượi, còn được gọi là “rừng Đại tướng”, là hệ thống hầm, lán, nhà làm việc được bố trí liên hoàn, thông suốt. Từ Sở Chỉ huy, men theo con dốc lên cao, đứng ở điểm quan sát, có thể thu trọn vào tầm mắt toàn cảnh thành phố Điện Biên Phủ, thung lũng Mường Thanh và cả những vị trí từng là nơi đóng quân của quân Pháp trước kia. Khi ấy, tôi mới thấm thía hơn sự sáng suốt của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong việc lựa chọn vị trí đặt Sở Chỉ huy.

Con đường lên Mường Phăng hôm nay, dù vẫn quanh co, dốc lên dốc xuống, nhưng đã được trải nhựa phẳng lì. Người dân nơi đây cũng đã biết làm du lịch, biết cùng nhau chăm chút từng góc nhỏ, từng đoạn đường, để Mường Phăng ngày một đẹp hơn, níu chân du khách. Điện Biên hôm nay hiện lên trước mắt tôi như bước ra từ những trang sách. Âm vang của trận đánh “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” năm xưa dường như vẫn còn vọng lại đâu đây, hòa vào nhịp sống bình yên của hiện tại. Tại Quảng trường 7/5, tôi bắt gặp những bạn trẻ cùng các chiến sĩ đang miệt mài luyện tập cho lễ khai mạc Lễ hội Hoa Ban. Giữa không gian ấy, quá khứ và hiện tại như giao thoa, tiếp nối.

Điện Biên vẫn còn nhiều khó khăn, nhưng tôi tin rằng với những gì đang có, vùng đất “hoa ban đỏ” năm xưa rồi sẽ vươn mình, trở thành một đóa “hoa ban trắng” tinh khôi, tươi đẹp của núi rừng Tây Bắc trong một ngày không xa.

L.N.S

. . . . .
Loading the player...