20-05-2026 - 01:02

Cố thi sĩ Xuân Hoài và công lao đối với văn hóa, văn nghệ Hà Tĩnh

Nhà thơ Xuân Hoài (15/5/1941 - 08/3/2006) không chỉ là một gương mặt tiêu biểu của thi ca Hà Tĩnh mà còn là một nhà quản lý văn hóa tâm huyết. Ông từng giữ trọng trách Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin, Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Hà Tĩnh. Với tâm hồn nhạy cảm và trách nhiệm trước quê hương, ông đã để lại những dấu ấn sâu đậm trong lòng bạn bè, đồng nghiệp và công chúng yêu thơ. Nhân kỷ niệm 85 năm ngày sinh và 20 năm ngày mất của cố nhà thơ, Tạp chí Hồng Lĩnh trân trọng giới thiệu một số tác phẩm đặc sắc của Xuân Hoài và bài viết Cố thi sỹ Xuân Hoài và công lao đối với văn hóa, văn nghệ Hà Tĩnh của nhà thơ Trần Nam Phong, Chủ tịch Hội Liên hiệp VHNT Hà Tĩnh về ông. Đây là nén tâm hương tưởng nhớ một người con ưu tú của núi Hồng sông La, một tâm hồn thơ đầy bản sắc đã hiến dâng trọn đời cho sự nghiệp văn hóa, văn học nghệ thuật tỉnh nhà.

 

XUÂN HOÀI

 

Những ngôi sao

 

Hành quân qua mỗi nghĩa trang liệt sĩ

Lại gặp những ngôi sao trên đầu mộ chí

Vẫn thức thâu đêm tươi sáng bên đường

Và như trong tiếng hát bờ dương

Có tiếng hát các anh năm nào ra trận

Những tiếng hát vẫn hành quân mỗi bận

Xanh biếc trăng đêm, ướt sũng mưa dầm

Như những ngôi sao chưa chịu yên nằm

Vẫn nhìn theo những ngôi sao trên mũ

Thế hiên ngang như đứng trong đội ngũ

Soi sáng chúng tôi trên mỗi bước đường

 

Ta như tre quanh vườn mẹ yêu thương

Lớp lớp cao xanh làm anh che lớp lớp

Ngày các anh đi đuổi Tây khắp nước

Chúng tôi còn trong những gánh tản cư

Thuở hôn tôi anh có nghĩ đến bây giờ

Trán tôi còn xạm đen màu lửa pháo

Mà khi hôn những búp tay mẫu giáo

Tôi thấy hiểu mình hơn trong những chuyến ra đi

Nơi nghĩa trang vôi trắng cỏ xanh rì

Tên chúng tôi dù dừng trên mộ chí

Nhưng tên Tổ quốc ta yêu quý

Sẽ đẹp đời đời những lứa măng lên

 

Đường hành quân ai tính mấy ngày đêm

Anh Vệ quốc đoàn đánh Tây năm bốn sáu (1946)

Đến những lứa quân hôm nay còn mẫu giáo

Dù bao nhiêu thế hệ đã lên đường

Cuộc chiến tranh này lịch sử đến ngàn chương

Sao trên trời có những đêm lửa tắt

Những ngôi sao Việt Nam đi đánh giặc

Vẫn hành quân sáng rực bốn phương trời

Cả những ngôi sao dừng lại vẫn ngời ngời.

                                                                   1967

Gửi người xa xứ

 

Người xa ở những xứ nào

Bao nhiêu nỗi nhớ buộc vào nơi tôi

Hẳn là xứ lạ xa xôi

Người quê chắc cũng bồi hồi nhớ quê

Bao nhiêu năm mới trở về

Người đi ngọn cỏ chân đê cũng buồn

Biết là nước chảy từ nguồn

Hóa mây, nước lại mưa tuôn về rừng (*)

Lòng quê chẳng dễ dửng dưng

Nhớ người xa xứ dõi từng dặm xa

Ở đâu cũng thể quê nhà

Xứ xa thành đạt cũng là người quê

Buồn vui trưa tối gọi về

Hồn quê phơi phới giọng quê thâm trầm

Thiêng liêng là nỗi nhớ thầm

Xa xôi mấy cũng trong tầm nhớ nhung.

                                                            12-1997

_____________

(*) Nước ra đi bể lại mưa về nguồn (Tản Đà)

 

Con đường về bến Tam Soa

 

Con đường về bến Tam Soa

Như câu thơ đẹp trải ra đón mời

Xanh chi lắm cỏ đê ơi

Để anh muốn chọn chỗ ngồi với em.

 

Đò ai thả giọng hò quen

Cho người trên bến muốn xen lời vào

Nghìn năm chưa thỏa ước ao

“Người ơi” câu ví vẫn xao xuyến lòng.

 

Em như dòng nước xanh trong

Bao nhiêu bến hẹn bờ mong trải dài

Anh như đò dọc đi hoài

Bao xuôi ngược cũng không ngoài mặt sông.

 

Người đi xa mấy năm ròng

Chưa ai quên một khúc vòng con đê

Cỏ xanh như chính lời thề

Hai bờ đê gợi bước về vương vương.

                                                1981

 

 

 

Cố thi sĩ Xuân Hoài

và công lao đối với văn hóa, văn nghệ Hà Tĩnh

 

TRẦN NAM PHONG

 

Cố nhà thơ Xuân Hoài (1941 - 2006), tên khai sinh là Bùi Xuân Huyến, nguyên Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Tĩnh, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin Hà Tĩnh, sinh ra trong một gia đình nhà nho thanh bần tại thị trấn Đức Thọ. Từng gánh vác trọng trách của một Tỉnh ủy viên qua các khóa 12, 13, 14, đại biểu Hội đồng Nhân dân tỉnh các khóa 11, 12, 13 và là người đứng đầu ngành văn hóa, văn nghệ tỉnh nhà, nhưng trước hết và sau cùng, Xuân Hoài luôn là một nhà thơ tâm huyết, một "vị tư lệnh" đã đặt những viên gạch nền móng vững chắc cho văn hóa, văn nghệ Hà Tĩnh kể từ ngày tái lập tỉnh. Những đóng góp to lớn của ông trên cả hai phương diện sáng tác thi ca và quản lý văn hóa - văn nghệ hoàn toàn xứng đáng để ông được đề nghị Nhà nước truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật.

Hành trình đến với văn chương của Xuân Hoài thật đặc biệt, gợi nhắc chúng ta về một thế hệ "nhà giáo dạy toán làm thơ" lừng lẫy của đất Nghệ Tĩnh thời bấy giờ như Thạch Quỳ, Vương Trọng và sau này là Lê Quốc Hán. Tốt nghiệp khoa Toán, Đại học Sư phạm Vinh năm 1962, ông trở về quê hương để gắn bó với bục giảng tại Trường cấp 3 Trần Phú, huyện Đức Thọ. Là một giáo viên dạy giỏi, phong thái lịch lãm, những vần thơ chép bằng mực tím của ông từng lưu dấu trong sổ tay của bao cô gái dọc bờ sông La ngày ấy. Sống và làm việc trong những năm tháng chống Mỹ đầy gian khổ, sự lãng mạn của một thi nhân đôi lúc đã khiến ông gặp không ít phiền muộn, thậm chí từng bị cho là có tư tưởng "tiểu tư sản" và phải chuyển công tác vào trường Cẩm Thăng thuộc huyện Cẩm Xuyên để "rèn luyện tư tưởng chính trị". Nhưng cũng chính từ những giông bão ấy, những câu thơ gan ruột của ông đã ra đời như một lời tự trào đầy minh triết: "Những ai không biết khóc/ Đừng mong chi họ cười" trong bài thơ "Khóc và cười". Sau 12 năm tận tụy cống hiến trên bục giảng, đến năm 1974, tiếng gọi mãnh liệt của đam mê sáng tạo văn chương đã đưa ông rẽ sang công tác tại Hội Văn nghệ Hà Tĩnh với cương vị Hội phó, mở ra một chương mới rực rỡ trong cuộc đời của một người làm văn nghệ chuyên nghiệp.    

Nói về sự nghiệp thi ca, Xuân Hoài là một nhà thơ miệt mài và bền bỉ. Từ tập thơ đầu tay in chung mang tên "Hương quê" xuất bản năm 1971, ông đã để lại cho đời một gia tài tác phẩm đồ sộ với hơn mười tập thơ trải dài trong khoảng thời gian từ 1971 đến 2006. Tiêu biểu có thể kể đến những ấn phẩm làm say lòng người đọc như "Tiếng chim vườn" (1976), "Sau những tháng năm" (1981), "Dưới trời mây trắng" (1987), "Bóng trưa" (1991), "Đừng là mưa bóng mây" (1995), "Gửi người xa xứ" (1998), "Khói lam chiều" (2002) và tác phẩm chan chứa nỗi niềm của những ngày tháng cuối đời "Người trong cõi nhớ" (2006). Đặc biệt, trên trang điện tử Thi Viện, đông đảo bạn đọc vẫn luôn tìm kiếm và dành tình cảm yêu mến cho các thi phẩm nổi bật của ông như: "Ánh lửa", "Chùm hoa giẻ", "Con đường về bến Tam Soa", "Hoa bìm", "Khóc và cười", "Tặng em", và "Về thăm quê". Thơ Xuân Hoài không chú trọng vào những phá cách hay tân kỳ hình thức, mà mang vẻ đẹp vô cùng giản dị, chân chất. Cái sâu sắc trong thơ ông đến từ chất "chân quê", đậm đà phong vị ca dao và sắc điệu giặm vè xứ Nghệ. Mạch thơ ấy cứ tự nhiên chảy tràn trong từng câu chữ, tạo nên một nhạc tính riêng, dễ dàng đi sâu vào lòng người. Sức sống lớn nhất trong thi ca của ông chính là sự hòa quyện tự nhiên với âm nhạc để rồi khi được cất lên thành giai điệu, trở thành những “bài ca đi cùng năm tháng”. Bài thơ "Núi Hồng sông Lam" với những câu thơ giản dị nhưng đậm chất triết luận về lịch sử và văn hóa của vùng đất địa linh nhân kiệt.: "Nếu không có sông Lam/ Núi Hồng buồn biết mấy/ Núi Hồng không đứng đấy/ Sông Lam trong cũng thừa". Những thi cảm sâu sắc ấy, khi được nhạc sĩ Quốc Việt phổ nhạc (thường được công chúng biết đến với nhan đề "Núi Hồng sông La"), đã vượt qua ranh giới thông thường để trở thành biểu tượng tâm hồn, lay động hàng triệu trái tim người yêu âm nhạc. Không kém phần lãng mạn và tình tứ, thi phẩm "Con đường về bến Tam Soa" lại đem đến một hình ảnh sông nước hiền hòa, trĩu nặng ân tình, chất chứa hoài niệm: "Đò ai thả giọng hò quen/ Cho người trên bến muốn xen lời vào/ Nghìn năm chưa thỏa ước ao/ “Người ơi” câu ví vẫn xao xuyến lòng".

Bên cạnh những vần thơ đẫm chất trữ tình lãng mạn, Xuân Hoài luôn gắn bó sâu sắc với hiện thực cuộc sống, mang những trăn trở thế sự hòa vào nhịp điệu của thời đại. Trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt, thơ ông phản ánh trọn vẹn sự hy sinh thầm lặng của dân tộc, quê hương, tiêu biểu như bài thơ "Những ngôi sao" (tác phẩm đoạt giải khuyến khích cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 1969) với triết lý đầy xúc động: "Sao trên trời có những đêm tắt lửa/ Những ngôi sao Việt Nam đi đánh giặc/ Vẫn hành quân sáng rực bốn phương trời". Tình mẫu tử thiêng liêng và bóng dáng tàn khốc của chiến tranh lại được ông khắc họa rưng rưng qua "Ánh lửa". Bài thơ viết về hình ảnh người mẹ lặng lẽ thức thâu đêm bên bếp than nồng để hong khô áo quần cho “đàn con” lính trẻ kịp sáng mai lên đường: "Tóc bạc như mây mềm/ Hồng lên trong ánh lửa/ Ngồi nhẩm quê từng đứa/ Mẹ mong đêm nay dài".

Vượt lên trên thực tại bộn bề, ngổn ngang thơ Xuân Hoài mang tính khái quát cao, đầy chiều sâu và suy tư triết lý. Qua bài thơ "Bên tượng cụ Nguyễn Du", ông bộc lộ sự thấu hiểu tận cùng vẻ đẹp tâm hồn của thi hào dân tộc: "Đẹp nhất đời Người là khi viết truyện Kiều say đắm/ Chắc nước mắt Người đã nhiều lần nhỏ xuống những câu thơ". Dù viết về thời cuộc, về cõi nhân sinh buồn bã khi tuổi già lâm trọng bệnh, hay bày tỏ sự tri ân sâu sắc với người vợ tảo tần chung thủy ("Không nói hết, tuổi già anh lâm bệnh/ Em trở thành thầy thuốc chăm nom"), ngòi bút của Xuân Hoài vẫn luôn trong trẻo, chân thật, rung động tận đáy lòng.

Cố Nhà thơ Xuân Hoài và Hội đồng biên tập Tạp chí Hồng Lĩnh những năm sau tách tỉnh. Ảnh. Tư liệu

Không chỉ là một nhà thơ đắm say với con chữ, Xuân Hoài còn khẳng định mình ở phương diện một nhà quản lý văn hóa - văn nghệ. Năm 1991, khi tỉnh Hà Tĩnh mới được tái lập, trong bối cảnh muôn vàn khó khăn, thiếu thốn đủ đường của một tỉnh nghèo mới chia tách, ông đã được Ban chấp hành lâm thời Hội Văn nghệ Hà Tĩnh tín nhiệm bầu làm Chủ tịch Hội kiêm Tổng biên tập Tạp chí Hồng Lĩnh. Bằng uy tín cá nhân, năng lực tổ chức và khả năng thu phục nhân tâm tuyệt vời, ông đã tập hợp được đội ngũ văn nghệ sĩ tinh hoa của địa phương, biến khu tập thể xập xệ thành ngôi nhà chung ấm áp của những tâm hồn sáng tạo. Có thể nói, thời Xuân Hoài là chủ tịch Hội, tuy số lượng hội viên chưa nhiều, nhưng ông đã tập hợp được một đội ngũ văn nghệ sĩ có chất lượng cao, tạo nên một “thế hệ vàng” mà sau này khó xuất hiện.Trong thời gian ông đảm nhiệm cương vị lãnh đạo Hội và sau này là Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin, ngành văn hóa Hà Tĩnh đã đạt được những dấu ấn rực rỡ và phát triển vô cùng mạnh mẽ. Với nhãn quan sâu sắc và rộng mở của một người am hiểu hiểu về văn hóa, Xuân Hoài không quản lý theo tư duy hành chính khô cứng mà luôn chú trọng đến việc bảo tồn, phát huy các giá trị di sản cốt lõi. Ông là người đã khởi xướng và trực tiếp chỉ đạo công tác sưu tầm, phiên dịch, hiệu đính, hội thảo khoa học và xuất bản nhiều công trình nghiên cứu có giá trị lớn như các bộ sách về dân ca ví giặm, về dòng họ Nguyễn Huy (Trường Lưu), hay về di sản đại thi hào Nguyễn Du. Dưới sự dẫn dắt của ông, Hà Tĩnh đã thực hiện được những công trình sưu khảo, biên dịch mang tầm vóc di sản. Có thể kể đến bộ sách đồ sộ "Làng cổ Hà Tĩnh" (do Võ Hồng Huy và Thái Kim Đỉnh chủ biên) gồm 2 tập, được xem là "quy thức" về địa văn hóa của vùng đất này. Ông đã tạo điều kiện và chỉ đạo xuất bản những tác phẩm quan trọng như "Thơ Bùi Dương Lịch", "Thơ chữ Hán Nguyễn Du" (Vương Trọng dịch thơ), hay việc phục dựng những bản thảo quý như "Truyện Kiều" (bản Nghi Xuân), "Truyện Hoa Tiên" (bản Đào Duy Anh biên khảo), "Hà Tĩnh sơn thủy vịnh" (Dương Thúc Hạp), "Năm thế kỷ văn Nôm xứ Nghệ" hay "Thơ văn xung quanh Truyện Kiều" (Thái Kim Đỉnh) không chỉ đơn thuần là sách, mà là sự khẳng định vị thế văn hiến của Hà Tĩnh trên bản đồ văn hóa dân tộc.

Nhờ những nỗ lực không mệt mỏi ấy, nhiều truyền thống phong phú của các làng quê, di tích lịch sử văn hóa được hồi sinh, làm cho nếp sống văn hóa Hà Tĩnh thêm vững chắc. Các di tích văn hóa - lịch sử quan trọng như Khu Di tích Nguyễn Du, Nhà lưu niệm Xuân Diệu, Nguyễn Phan Chánh đã được quan tâm tu bổ và tôn tạo xứng tầm. Đặc biệt, Tạp chí Hồng Lĩnh dưới sự chèo lái của ông đã vươn lên mạnh mẽ, trở thành một tạp chí văn học nghệ thuật có chất lượng chuyên môn cao hàng đầu cả nước, thậm chí mang tầm ảnh hưởng quốc tế khi được trường Đại học Sorbonne danh giá của Pháp đặt mua hằng tháng để phục vụ công tác nghiên cứu.

Ở phương diện quản lý, ông là một người lãnh đạo giản dị, quyết đoán nhưng lại vô cùng gần gũi, biết lắng nghe, trọng dụng nhân tài và luôn đau đáu tạo điều kiện tốt nhất cho nghệ sĩ tự do sáng tạo. Cuộc thi "Viết về tuổi học trò" cùng nhiều hoạt động phối hợp với ngành giáo dục do ông tâm huyết khởi xướng đã trở thành vườn ươm cho nhiều cây bút trẻ tài năng, góp phần xây dựng đội ngũ kế cận nòng cốt vững chắc cho đội ngũ văn nghệ sĩ Hà Tĩnh sau này. Những đóng góp quan trọng của ông đã được ghi nhận qua nhiều giải thưởng danh giá như Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Nguyễn Du qua cả ba lần tổ chức (1990, 1995, 2000), cùng Huy chương vì sự nghiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam và Huy chương vì sự nghiệp Văn hóa. Khi nhìn lại toàn bộ cuộc hành trình sống và sáng tạo của ông, người ta thấy rõ một sự nhất quán tuyệt đẹp: thơ ông chính là con người ông, và công việc quản lý của ông thực chất cũng là một cách "làm thơ" bằng những hành động thực tiễn mang lại lợi ích cho đời.                 

Với những công lao nói trên, năm nay, nhân kỷ niệm 20 năm ngày nhà thơ Xuân Hoài đi xa (2006 - 2026), việc đề nghị truy tặng giải thưởng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật cho cố nhà thơ Xuân Hoài không chỉ là sự ghi nhận đích đáng đối với di sản văn chương to lớn và những cống hiến quản lý xuất sắc của ông, mà còn là nén tâm nhang thành kính của thế hệ hôm nay dành cho một người nghệ sĩ đã trọn đời rút ruột nhả tơ vì nền văn hóa Hồng La. Với những bài thơ đã thấm sâu vào mạch nguồn xứ sở quê hương và những di sản văn hóa mà ông dày công vun đắp, tên tuổi thi sĩ Xuân Hoài sẽ mãi đồng vọng cùng dòng sông La hiền hòa và ngọn núi Hồng sừng sững, đọng lại mãi mãi trong “cõi nhớ” của người yêu văn học nghệ thuật Hà Tĩnh.

T.N.P

. . . . .
Loading the player...