12-01-2026 - 23:52

Ảnh hưởng ngôn ngữ Truyện Kiều đối với đời sống cộng đồng và thơ ca hiện đại

Tạp chí Hồng Lĩnh trân trọng giới thiệu bài viết “Ảnh hưởng ngôn ngữ Truyện Kiều đối với đời sống cộng đồng và thơ ca hiện đại” của Nhà lý luận phê bình Hà Quảng

Ngoài những giá trị quen thuộc mà chúng ta đều biết như giá trị nhân đạo, giá trị hiện thực, trong sự vinh danh của UNESCO đối với Nguyễn Du - thi hào kiệt xuất của Việt Nam, vấn đề đưa Tiếng Việt lên một tầm cao mới là một vấn đề quan trọng. Trong thời điểm mà chữ Hán rất thịnh hành trên văn đàn, Nguyễn Du đã vượt qua những rào cản để đưa lại vị trí mới cho Tiếng Việt bằng cách sáng tạo nên một siêu phẩm Truyện Kiều chữ Nôm là một bằng chứng rất đáng ghi nhận. Unesco cũng rất đề cao tầm phổ quát và sức mạnh lan tỏa của Truyện Kiều. Cũng chính nhờ thành công lớn của ngôn ngữ, siêu phẩm này đã có sức lan tỏa nhanh chóng và rộng rãi trong công chúng. Sức mạnh, vẻ đẹp chuyển tải của ngôn ngữ là một đóng góp lớn lao. Từ cái cốt truyện bình thường gia công truyền thuyết dân gian của Thanh Tâm Tài Nhân, Nguyễn Du với thiên tài ngôn ngữ tiếng Việt đắp bồi da thịt thành một truyện Nôm sống động qua bao thế kỷ, trong trái tim người dân Việt và thế giới. Chữ Nôm trước đó, Quang Trung đã cho phép sử dụng một phần trong các văn bản công và các tác giả khác cũng có sử dụng để viết một số truyện Nôm, nhưng đến Nguyễn Du mới có được một sự thể hiện tài tình thế giới khách quan và tâm tư con người như vậỵ. Nguyễn Du đã nối vào hàng ngũ các thi hào làm vinh danh cho ngôn ngữ Tổ quốc mình như A.Puskin với tiếng Nga, J.Gớt với tiếng Đức, U.Sếch-xpia với tiếng Anh và V.Huygô với tiếng Pháp... Họ mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển ngôn ngữ dân tộc mình. Cao Hành Kiện – người được Nobel 2000, đã nói rất hay về điều này:“…Nhà văn sáng tạo thông qua ngôn ngữ, tính dân tộc của tác phẩm xuất phát trước hết và trên hết từ năng lực của tác giả biết khai thác tiềm năng nghệ thuật của thứ tiếng ấy.”(Cao Hành Kiện, Kỹ thuật hiện đại và tính dân tộc, Báo Văn Nghệ số 32 - 2004)

Tọa đàm khoa học dịch Truyện Kiều

Quả thật với Truyện Kiều và một số tác phẩm văn Nôm khác như Văn tế hai cô gái Trường Lưu, Thác lời trai phường nón, Văn tế cô hồn thập loại, Nguyễn Du đã rất thành công trong việc tạo lập một thứ ngôn ngữ Việt “giản dị dễ hiểu mà tao nhã văn chương”, rất bác học nhưng cũng rất đại chúng, một đỉnh cao không chỉ với đương thời mà vạch một lối đi cho cả về sau, đến bây giờ vẫn còn ý nghĩa rất thời sự.

1. Ảnh hưởng trong đời sống cộng đồng

Ngôn ngữ Kiều có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống cộng đồng, có khả năng đi vào đời sống làm giàu vốn ngôn ngữ dân tộc. Nhân dân ưa các lối ví von, các cách nói, đặc biệt các từ ngữ, các câu thơ trong Kiều. Họ đem vận dụng vào lời ăn tiếng nói hàng ngày, cho rằng nói như vậy mới hay trên cả hai phương diện: diễn tả được hết ý mình cũng như tác động sâu sắc đến người khác! Trong đó lối nói sử dụng thành ngữ trong Truyện Kiều khá phổ biến, được vận dụng hàng ngày trong trao đổi sinh hoạt cũng như lao động, hội hè: tô lục chuốt hồng, hình dong chải chuốt - áo quần bảnh bao, phận mỏng cánh chuồn, đài sen - dấu bèo, khuất mặt cách lòng, ngó ý - tơ lòng…Ngoài việc làm giàu vốn từ vựng nhờ sử dụng các từ, các thành ngữ trong tác phẩm, thì Nguyễn Du tạo nhiều khuôn dạng đề người đời bắt chước vận dụng theo trong giao dịch cũng như cấu tạo văn chương tạo thành những thành ngữ mới như: cách so sánh, cách vận dụng đối xứng, cách Việt hóa thành ngữ Hán…Thí dụ: tai bay vạ gió, hết nước đến cái, đầu gà má lợn, đầu làng cuối xóm, thâm căn cố đế….

Ngôn ngữ Kiều sinh động đa dạng rất dễ vận dụng trong nhiều tình huống đời sống, trong giao tiếp, viết lách, nên nhiều chính khách, tác giả hay đưa các câu Kiều vào các bài viết, bài nói chuyện của mình nhằm nói rõ ý tứ, thông điệp cần biểu hiện trao đổi cũng như tăng cường sự cảm hoá đối với đối tượng quần chúng nhân dân. Các hình thức thường gặp trong khuôn dạng này là tập Kiều và lẩy Kiều. Tập Kiều là mô phỏng từ ngữ lời thơ Kiều (tập cổ) để nói về đời sống hiện tại  …Từ dăm ba chữ Kim - Kiều/ Những là trộm nhớ thầm yêu năm chầy. Lẩy Kiều là mượn chữ nghĩa, lấy một vài chữ trong Kiều đưa vào bài viết hay câu nói của mình: …Dứt tình kẻ ở người đi/ Cũng như Kim Trọng biệt ly Thúy Kiều…Các bài viết, nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các Tổng thống, các vị khách nước ngoài đến nói chuyện ở các trường đại học Việt Nam, các bài viết của các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước nhân dịp gặp gỡ nhân dân trong các ngày hội lễ thường hay sử dụng các cách này.

Có được sự qua lại như vậy do trên phương diện ngôn từ, Nguyễn Du đã khai thác tối ưu các thủ pháp biểu cảm trong tiếng Việt như đối xứng, ước lệ, tượng thanh, tượng hình, các kiểu kiến trúc câu, các cụm từ thích hợp, dễ bắt chước, vận dụng trong đời sống. Những câu lẩy Kiều vì thế thường nảy sinh trong lao động, trong sinh hoạt, vui chơi giao tiếp: Khi tựa gối khi cúi đầu…, Họ Từ tên Hải vốn người…, Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi…

2. Ảnh hưởng trong thơ ca hiện đại 

Nguyễn Du cũng để lại nhiều bài học đáng quý trong việc sử dụng các từ ngữ địa phương, đặc biệt là khẩu ngữ. Điều mà trước đây xem “nôm na là cha mách qué”, thì có thể đếm không ít các từ trong khẩu ngữ xứ Nghệ mà ông đưa vào tác phẩm chi, ả, mụ, min, nghé, mặt mo, cậy, lọ, ngài, mần, chín dạn, u ơ…

Trong một số bài viết của mình trước đây, các cụ Đào Duy Anh, Trương Vĩnh Ký, Văn Hòe, đã nói rất rõ các đặc điểm này của ngôn ngữ Nguyễn Du qua Truyện Kiều. Chỉ một đoạn tả cảnh Tú Bà mắng Kiều lần đầu khi Mã Giám Sinh đưa về mà chồng chất bao nhiêu khẩu ngữ đặc sắc, “thật xứng đáng kỳ tài, bậc thầy kim hoàn ngôn ngữ ”. Nào là: Màu hồ đã mất đi rồi/ Thôi thôi vốn  liếng đi đời nhà ma, Buồn mình trước đã tần mần thử chơi, Lão kia có giở bài bây/ Chẳng văng vào mặt mà mày lại nghe/ Cớ sao chịu tốt một bề/ Gái tơ mà đã ngứa nghề sớm sao! (Đào Duy Anh - theo Lê Xuân Lít, 200 năm nghiên cứu bàn luận Truyện Kiều). Ngày nay trong sự đổi mới đáng nói của thơ hiện đại và hậu hiện đại là đưa ngôn ngữ thơ lại gần lời ăn tiếng nói quần chúng mà cách sử dụng thường xuyên khẩu ngữ, từ ngữ địa phương là một dấu ấn, cũng có thể hiểu đây là sự tiếp nối thi pháp người xưa mà Nguyễn Du là một tiêu biểu.                        

Một điều không kém phần quan trọng tạo nên sắc thái riêng của Nguyễn Du trong việc dùng Tiếng Việt mà ngày nay các thi sĩ ưa vận dụng, đó là sử dụng một phương thức tu từ quen thuộc của tiếng Việt  phép ẩn dụ. Nếu thơ ca là “ẩn dụ về đời sống”(Gớt) thì ngôn ngữ thơ nhờ phép ẩn dụ mà có một bề sâu mỹ cảm thích hợp rung động người đọc trong mối suy cảm phức hợp bền lâu đầy khám phá. Phép tu từ này rất hay được dùng trong ca dao, dân ca. Đọc Truyện Kiều, dễ dàng nhận thấy có rất nhiều hình ảnh ẩn dụ quen thuộc thường thấy trong ca dao như “cánh bèo” “tơ tằm”: “Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng”, “Nghĩ mình mặt nước cánh bèo/ Đã nhiều lưu lạc, lại nhiều gian truân”. Nguyễn Du đã đa dạng hóa phương thức tu từ này, trở thành một lối nói quen thuộc, nâng cao đưa đến những hiệu quả thẩm mỹ mới. Khi thì một ẩn dụ có tính tả thực: cảnh vườn thúy Kim Trọng trở lại tìm Kiều: Xập xè én liệng lầu không/ Cỏ lan mặt đất, rêu phong dấu giày. Khi là những ẩn dụ có tính ước lệ trong cảnh Kiều gặp Kim Trọng đềm thề bồi: Bóng trăng đã xế hoa lê lại gần. Khi là những ẩn dụ tâm linh: Trông ra ngọn cỏ lá cây/ Thấy hiu hiu gió thì hay chị về… Có thể nói bất cứ đoạn thơ nào trong Truyện Kiều cũng có những ẩn dụ được sử dụng, khi giản dị, cụ thể khi cao nhã, khái quát nhưng bao giờ cũng thấm nhuần một sắc thái đẹp đẽ, sinh động của Tiếng Việt. Thơ hiện đại, các tác giả sử dụng đa dạng phương thức tu từ này biến thành một đặc điểm phổ quát khá nổi trội. Yếu tố siêu thực trong thơ hiện đại được phát triển trên cơ sở những ẩn dụ có màu sắc ước lệ, tâm linh khá phổ biến trong Truyện Kiều! Nổi bật là ở các nhà thơ chuộng lối nói cách tân đề cao vẻ đẹp siêu thực ngôn từ như Chế Lan Viên, Huy Cận, Chính Hữu, Thanh Thảo, Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Hoàng Vũ Thuật…

Nguyễn Du sáng tác Truyện Kiều lấy nguồn từ tác phẩm Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân, nhưng hầu hết những câu thơ mang tính triết lý, những câu trữ tình hay nhất là của Nguyễn Du. Những tư tưởng uyên thâm, những triết lý sâu sắc đều “xuất phát từ tư tưởng của Nguyễn Du, tư tưởng ca dao kết hợp với tư tưởng Nho Phật mà ông có điều tiết lại” (Nhật Chiêu). Nguyễn Du đã “bình dân hoá” các khái niệm tôn giáo, triết lý nhân sinh, từ đó cho ra một tác phẩm nhuần thấm hồn dân tộc nổi bật tư tưởng triết lý Việt - cái mà tác phẩm gốc không có. Nguyễn Du cũng là người đã bình dân hoá các khái niệm trừu tượng bằng lối nói bình dân. Trong việc sử dụng các lớp từ thuộc loại bác học, bên cạnh việc sử dụng khá thành công các điển tích, điển cố, ông còn hay dùng các từ ngữ tôn giáo, đạo lý giàu tính khái quát, triết lý nhân sinh, vừa để thỏa mãn lớp người đọc ưa chữ nghĩa, làm sâu sắc thêm tư tưởng tình cảm tác phẩm nhưng cũng không quá xa lạ khó hiểu với công chúng. Cách diễn đạt đó ngấm sâu vào nếp nghĩ hằng ngày của mọi người, trở thành những châm ngôn trong đời sống. Chẳng hạn, về triết lý thiên mệnh: Bắt phong trần phải phong trần/ Cho thanh cao mới được phần thanh cao, Đau đớn thay phận đàn bà/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung. Về thuyết tài mệnh tương đố: Trăm năm trong cõi người ta/ Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau… Về tôn giáo: Tu là cõi phúc, tình là dây oan… Ngày nay trong xu thế đề cao chất trí tuệ trong thơ, nhiều tác giả đưa vào tác phẩm vẻ đẹp của sự suy nghiệm với một thứ ngôn ngữ đa dạng, sinh động mà nhiều nhà phê bình xem là một đặc điểm của thi pháp thơ ca hiện đại. “Thơ Trần Lê Khánh thể hiện suy nghiệm triết học sâu sắc về sự sống các  mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, vũ trụ”- Mai Văn Phấn; “Ngôn ngữ tập thơ mở vào thế giới của sự minh triết, ... phảng phất hơi hướng của lời kệ hoặc haiku”- Nguyễn Thanh Tâm;  “Thơ Nguyễn Quang Thiều là những dụ ngôn, những ẩn dụ, thể hiện sự suy tư, tìm kiếm tư tưởng. Thơ Nguyễn Quang Thiều là thơ tư tưởng”- Bùi Công Thuấn… Phải chăng đây là sự gặp gỡ đặc sắc của thơ hiện đại và ngôn ngữ Truyện Kiều vì tính triết lí vẻ đẹp trí tuệ đã trở thành một đặc điểm của thi pháp thơ ca hiện đại.

Nguyễn Du viết Truyện Kiều bằng lục bát, thể loại trọng yếu nhất của ca dao, dân ca. Tiếng Việt và “thể thơ lục bát làm được mọi thứ, chúng ta khâm phục và tự hào điều đó” (Đỗ Trung Lai) - Ngôn ngữ Truyện Kiều nhuần nhuyễn theo niêm luật thơ 6-8 nhưng đầy sáng tạo về từ vựng cũng như cú pháp: Nguyễn Du thay đổi các kiểu câu, sáng tạo các loại vần chân, vần lưng, vần phụ, vần chính; các loại từ điệp, từ lấp láy; các loại vế đối… làm thay đổi tiết tấu câu thơ tùy nội dung thể hiện (Nửa chừng xuân/ thoắt / gãy cành thiên hương (tiết tấu)…Vó câu khấp khểnh/ bánh xe gập ghềnh (tiểu đối)… Ngày nay ngôn ngữ thi ca hiện đại biến chuyển rất sinh động cùng thể thơ lục bát như vắt dòng, leo thang, không viết hoa, không dấu chấm…, tùy biến trên các phương diện thanh, vần, nhịp, để thực hiện các nhiệm vụ tả cảnh, diễn tình, hay ngụ ý triết lý, làm phong phú thể tài lục  bát.

Qua những phân tích trên phần nào thấy được sự đóng góp to lớn của Nguyễn Du vào gia tài Tiếng Việt - làm giàu, phát triển kho từ vựng bên cạnh làm đẹp nhờ các biện pháp tu từ mới. Trong tác phẩm của Nguyễn Du, ngôn ngữ bình dân được đặt cạnh ngôn ngữ văn chương bác học một cách nhuần nhị, giản dị không hề lạc điệu, đưa hệ thống ngôn ngữ cộng đồng vào trong các thi phẩm vươn lên tầm vóc mới mà vẫn đậm chất Việt. Tiếng Việt trong các tác phẩm Nguyễn Du có một sức sống lâu bền, đặt cơ sở cho sự phát triển bền vững, lâu dài ngôn ngữ dân tộc./.    

H.Q

. . . . .
Loading the player...