07-09-2026 - 07:04

Truyện ngắn Mùa hoa trở lại của Phạm Thị Thanh Hoa

Tạp chí Hồng Lĩnh số 238+239 giới thiệu truyện ngắn Mùa hoa trở lại của Phạm Thị Thanh Hoa

Cuộc điện của bà Dần về trong chiều muộn. Cả nhà Hùng lặng đi. Ba đã mất. Vậy là cuối cùng ba chọn ở lại bên bà, người cả thời thanh xuân ba thương nhớ và day dứt. Hùng điện cho mấy anh chị em sắp xếp thời gian gấp rút vào Tây Nguyên làm lễ cho ba. Trong mắt anh em Hùng, ba là một người đàn ông không chỉ trách nhiệm, mẫu mực với con cái mà còn là người thuỷ chung, sắt son, nặng tình nặng nghĩa. 

Cuộc đời của ông Trường, ba của Hùng, nếu viết thành nhật kí, thì chắc hẳn người đọc sẽ sẵn sàng trả tiền để được đọc nó. Chàng trai đất Thái Bình phơi phới đầu quân khi tuổi vừa mười chín. Anh hăng hái xin gia nhập tiểu đoàn vào Hà Tĩnh, rốn lửa ngày đó để đảm bảo thông suốt con đường ra trận. Ra đi, mẹ bịn rịn dặn dò: chiến tranh binh lửa, bom rơi đạn lạc, nay còn mai mất. Bố mẹ lại chỉ có mình con là con trai. Quân ngũ phải lo việc lớn, nhưng nếu gặp duyên thì báo mẹ mừng nhé! Bố găng mẹ: bà nói đã hay! Con đi chiến trường mà bà làm như con đi kén vợ ấy!

Đôi khi có những điều xuất hiện trong cuộc đời mình, ta không lí giải được thì ta hay bảo là cái duyên, cái số. Duyên thì có dữ, có lành. Số thì có hên có xui. Hôm ấy, trời nắng đẹp. Máy bay địch vẫn quần thảo liên tục trên đầu. Đơn vị của Trường nhận nhiệm vụ bảo vệ đoàn xe qua chảo lửa này. Anh sốt ruột. Đã hơn bốn giờ chiều, chúng nó vẫn chưa có ý định rời đi. Cả vùng trung du này chúng nó băm nát từng ngọn cỏ, chực chờ như diều hâu chờ gà. Đoàn xe lại không thể chậm trễ hơn. Quân lương rất cần. Trường đang định gọi cấp trên hỗ trợ phương án thì may thay, địch bắt đầu chán. Một rồi hai, ba, bốn con đầm già rời làng. Tiếng bom thưa dần rồi tắt hẳn. Ánh nắng yếu ớt cuối ngày đủ để cho đơn vị anh kịp gỡ bom. Có cả chục quả chưa nổ. Trường cẩn trọng đến từng chi tiết. Từng vẹt đất xúc lên, tiếng đất đá va vào vỏ bom leng keng. Dù đã nghe quen âm thanh ấy, nhưng anh vẫn không khỏi rợn người bởi cảm giác thần chết cầm lưỡi hái chực bên cạnh. Nhưng rồi, điều rủi vẫn xảy ra như Trường linh tính. Đơn vị đưa anh bê bết máu gửi nhà dân trong làng. Nhưng tình hình vết thương khá sâu, khá hiểm phải ở lại điều trị lâu dài. Trường lo lắng và ngại ngần. Vết thương chưa lành, lòng đã bồn chồn vì những ngày xa đơn vị. Nhưng anh không ngờ, nơi trú tạm ấy lại là điểm bắt đầu cho mối tình tưởng như chỉ có trong mộng.

Dần – con gái út của bà Tương, hiền lành, cẩn thận, ngày ngày mang cháo, đắp thuốc cho anh. Mắt cô có ánh nhìn vừa dịu dàng vừa đầy thương cảm. Cái đẹp của con gái Hà Tĩnh mộc mạc, chân chất. Giọng quê Hà Tĩnh lắm phương ngữ nghe hay hay, nhiều khi phải đoán nhưng rất thú vị. Những buổi chiều anh ngồi trước hiên, cô thường mang thúng ra đãi gạo, nói chuyện rì rầm như gió thổi qua kẽ tre. Rồi một chiều, ánh mắt họ gặp nhau lâu hơn thường lệ. Tình yêu cất lên tự bao giờ. Năm ấy, Dần vừa tròn mười tám tuổi, Trường hai mươi.

Mối tình thầm lặng và trong trẻo nhưng mãnh liệt. Bà Tương biết và tán thành mối lương duyên. Trường xin phép gọi bà là mẹ. Một lời mẹ ơi, hai lời em ơi, cái cảm giác ấy thân quen, gần gũi đến độ đôi lúc anh tự cảm thấy mình có vợ. Không mỗi chỉ bà Tương, mà cả xóm đều biết. Bà con chòm xóm cũng mặc nhiên coi Trường là con rể bà.

Vết thương hồi phục. Ngày chia tay trở về đơn vị, quyến luyến không rời, Trường dặn người yêu:

- Gắng chờ anh! Anh sẽ xin đơn vị tạo điều kiện cho ta. Vợ nhé!

Một lời dặn dò ấy nhưng Dần ghim sâu trong tim. Dù chưa cưới hỏi, nhưng một tiếng “vợ” của anh cho cô một niềm tin mãnh liệt. Cô hứa. Hôm tiễn anh lên đường, cô gói cho anh một chiếc khăn tay, thêu ba chữ: “Chờ anh về.”

Chiến tranh không chờ ai. Một lần làng cô bị bom, cả xóm cháy rụi. Trường nhận tin dữ khi vừa hành quân qua làng đau xé tâm can. Anh muốn quay lại tìm cô, tìm bà Tương- người anh coi như mẹ. Nhưng chiến tranh mà, trên đường hành quân đâu dễ gì nói quay là quay lại được. Đơn vị của Trường vẫn phải tiếp tục đi. Nỗi đau ấy, anh chôn trong tim suốt mười bảy năm.

Ngày giải ngũ, anh trở về quê, lặng thầm sống trong nhung nhớ. Trường ít nói hẳn. Đêm đầu tiên trở về quê, Trường nằm nghe tiếng mưa rơi trên mái rạ. Trong giấc ngủ chập chờn, anh lại thấy Dần đứng bên hiên nhà, chiếc áo nâu sẫm, mỉm cười thẹn thùng. Anh choàng tỉnh. Ngoài sân chỉ có tiếng gió. Từ đêm ấy, giấc ngủ anh trở nên biếng nhác. Anh gầy đi trông thấy.

Mẹ lặng lẽ quan sát anh với đôi mắt mênh mang buồn, vời vợi xót xa. Bà bàn với ông: đàn ông phải có vợ mới thấy cuộc đời ý nghĩa. Ít ra cưới vợ, có con sẽ giúp nó bận rộn hơn và đỡ phần nào chông chênh. Thế là bà nhắm nhót đánh tiếng với một cô gái trong làng. Cô gái ấy tuy không đẹp nhưng rất hiền thảo. Vân - tên cô gái - có sự ngưỡng mộ và kính trọng và tình yêu thương đặc biệt với những cựu giải phóng quân như Trường. Khi bố mẹ anh ngỏ lời, Vân có phần ngại ngần nhưng cũng đồng ý. Tuy không được Trường trực tiếp tìm hiểu và theo đuổi nhưng cái việc cưới hỏi lại được nhà trai và chính Trường tổ chức rất long trọng và đầy đủ. Tận sâu trong tâm tư, Vân cảm thương những người lính bước ra từ chiến trường, tư trang mang về không chỉ là quần áo, mà còn nặng trĩu kí ức về đồng đội, về máu và lửa chiến tranh, về những cuộc chia ly nghẹn lòng đau đớn. Nhiệt huyết thanh xuân lùi sâu sau những điều không biết bao giờ nguôi ngoai. Cô hiền lành, cần kiệm bên chồng, cùng anh góp nhặt vui buồn cho những tháng ngày bình yên. Bốn đứa trẻ lần lượt ra đời. Vợ chồng Trường bận rộn dần. Tiền cần nhiều hơn.Trường lao vào làm thêm ngoài công việc hành chính ở uỷ ban xã. Anh cam con. Mỗi đứa con ra đời, Trường lại tự thêm cho mình một trọng trách, vừa công việc vừa đồng hành cùng con. Tuy vậy, thỉnh thoảng lòng vẫn gợn những điều không thể gọi tên. Thi thoảng, anh vẫn gặp những giấc mơ không đầu không cuối. Nét mặt người con gái năm xưa vẫn phảng phất ẩn hiện. Những lần như thế, Trường lại lén lôi chiếc khăn tay cũ ra ngắm đến bần thần. Không hiểu sao anh vẫn cảm nhận được điều gì cứ dính mắc mãi, không xếp yên được kí ức về ngày ấy. Duyên phận có thật không? Câu hỏi ấy cứ ám ảnh anh. Vân bên anh mọi lúc, phần nào cảm nhận được nét đượm buồn trong mắt chồng. Có những chiều muộn nhìn bóng chồng bất động bên hiên nhà, Vân xa xót thương anh. Chiến tranh cướp đi của mỗi người bao nhiêu bình yên, để lại cho họ những vết thương không bao giờ lành.

Minh họa: TRUNG KIÊN

Thời gian vẫn cần mẫn trôi, vẫn chọn lọc xoá những gì cần xoá. Nhưng có lẽ kí ức nằm quá sâu để chịu sự băng hoại của thời gian. Khi bốn đứa con vừa lần lượt trưởng thành, bà Vân rời xa chồng vĩnh viễn. Ông Trường buồn đau, càng trầm lặng hơn. Ông cô quạnh. Có lần Hùng- con trai cả của ông- nhìn thấy bố đang tỉ mẩn sắp đặt lại đồ cá nhân, anh nhìn thấy chiếc khăn tay thêu. Thật ra thì anh thấy rất nhiều lần bố mân mê chiếc khăn ấy. Biết là kỉ vật của bố, nhưng bao lần chứng kiến hình ảnh bố bất giác thẫn thờ, Hùng khá gắt:

- Chiếc khăn cũ rồi, bố giữ làm gì nữa? Thời gian đâu thể quay lại ạ

Ông bố lặng im mấy giây rồi hiền từ ngước nhìn con trai, cười bao dung:

- Có những thứ càng cũ càng phải giữ con trai ạ!

Hùng đứng yên lễ phép nghe lời bố dạy. Bố ít nói nhưng những lời bố nói với anh dường như bao giờ cũng có sức nặng đặc biệt. Trong những câu từ ấy chứa đựng không chỉ là bài học mà còn là cả một nỗi niềm của một cựu chiến binh dạn dày.

Một chiều nọ, ông Trường nhận được một cuộc gọi từ số lạ. Giọng nam miền Trung đặc sệt làm ông sững người mất mấy giây:

- Anh Trường à! Em Tuấn đây! Anh còn nhớ em không? Em là em trai chị Dần đây mà!

- Ông Trường giật sững. Chiếc điện thoại trên tay suýt rơi. Ông ngỡ ngàng rồi lắp bắp:

- Em… em Tuấn?

Đầu bên kia sôi nổi hẳn lên:

- Dạ, em đây! Hồi anh ở đây, em còn nhỏ xíu, anh còn tắm cho em đó! Anh nhớ không?

Cả người ông Trường như bừng lên. Rộn ràng và hồi hộp. Khi Trường rời nhà bà Tương, Tuấn vẫn còn rất nhỏ, là em trai thứ tư của Dần. Qua cuộc thoại, Tuấn kể cho ông cuộc tìm kiếm của gia đình Tuấn qua trang mạng xã hội, dù mong manh nhưng rất hi vọng về ông. Anh kể cho ông nghe chuyện gia đình từ bấy đến bây giờ. Hóa ra, hôm làng bị bom, Dần đang theo đoàn dân công hỏa tuyến. Cả gia đình bà Tương trú hầm kịp thời. Dần chờ ông gần mười năm trời! Mười năm, cô gái xuân sắc rực rỡ từ chối hết mọi lời theo đuổi. cô và gia đình mặc định cô đã có chồng đang ra trận. Chiến tranh chia cách đã đành. Nhưng đến những thông tin cơ bản của Trường, gia đình cô cũng mù tịt. Chỉ biết anh là người Thái Bình. Mòn mỏi không có thông tin từ anh, bà Tương động viên con hoá giải lời thệ nguyền. Dần cạn niềm hi vọng. Chồng cô sau này chính là bác sĩ chữa vết thương cho cô. Nhưng rồi đoản mệnh, anh mất sớm. Dần dắt con vào Tây Nguyên sinh sống từ bấy đến nay. Cuộc điện đàm nghẹn ngào xúc động. Ông Trường khóc. Những giọt nước mắt của người cựu chiến binh muộn mằn và đau đớn.Tim run lên như chàng trai hai mươi tuổi. Ông lão tóc bạc quyết định lên đường - không để đòi lại tình xưa, mà để biết người xưa còn sống.

Tây Nguyên vào mùa hoa cà phê trắng muốt, ông đứng trước ngôi nhà nhỏ bên đất đỏ bazan. Chân ông Trường như nhũn lại. Điểm thêm vài phút lấy bình tĩnh, ông gõ cửa. Một người đàn bà nhỏ nhắn, tóc điểm bạc mở cửa, mắt nheo nheo:

- Bác hỏi ai?

Đúng rồi! Đúng cái giọng này rồi! Ông Trường nghẹn lại: Dần! Bà sững người. Bốn ánh mắt nhìn nhau. Bất giác, bà quay vội vã vào nhà. Bước chân như vấp một thứ gì đó vô hình, bà ngã ngồi vào chiếc sô pha phòng khách. Ông Trường bước vội vào theo. Vào đến nhà, ông đứng đực ra nhìn lưng bà, rồi dịu giọng hỏi:

- Em! Vẫn còn giận anh sao?

 Người phụ nữ lọt thỏm trong chiếc ghế, vai rung rung. Ông chậm rãi lại ghế đối diện ngồi chờ. Cái sự chờ đợi tưởng chừng ngưng cả kim đồng hồ lại. Thời tiết Tây Nguyên mùa này thật dễ chịu. Hay là sự chờ đợi này quá dễ chịu với ông? Sau mấy phút, bà định thần ngẩng lên. Bà nhìn ông. Họ nhìn nhau, không cần nói gì thêm. Bao nhiêu năm chỉ còn lại một ánh nhìn. Ông nở một nụ cười hiền:

- Anh trễ quá, phải không em?

Bà không trả lời được. Bà sợ nói ra ông lại nghĩ bà trách móc, ông lại buồn. Ngày xưa cũng vậy, điều bà sợ nhất là ông buồn. Bà chỉ cười. Bà kể ông nghe cuộc sống từ khi xa ông. Bà kể nhỏ nhẹ và từ tốn như kiểu kể về cuộc đời người khác vậy. Bởi trong khi thuật những biến cố, mắt bà vẫn nhìn ông, bao dung và đầy ánh cười.

Ông ở lại với bà nửa tháng. Ông sửa giúp bà những đồ đạc trong nhà, chỉnh cho bà từ cái bậc tam cấp đã hơi cao với đầu gối người nhà đến những chiếc kệ dao, kệ ,kệ mũ, chiếc khung ảnh đã long ốc đến thay đất dàn chậu hoa sau ban công. Chiếc khăn tay cũng được ông lồng vào trong chiếc hộp gỗ xinh xinh đặt trên kệ bên giường ngủ của bà.

Rồi ông về. Còn nhiều việc ngoài quê ông cần giải quyết. Nhưng từ đó, mỗi năm một lần, ông Trường lại đón xe vào Tây Nguyên. Căn nhà nhỏ bên sườn đồi đầy tiếng cười râm ran và những chuyện chưa kể. Các con ông đã trưởng thành, có người làm lãnh đạo, có người xa quê. Chính Hùng bàn với các em để bố ở lại Tây Nguyên cùng bà Dần, tuổi già đi lại vất vả. Trong khi về nhà, ông cũng một mình, lủi thủi rồi ngong ngóng cả ngày. Nghe con nói, ông Trường mừng ra mặt. Ông lên kế hoạch cho chuyến đi dài ngày sắp tới, kể cả vào Hà Tĩnh.

Lần trở lại làng cũ, ông ghé thăm Tuấn và ngôi nhà xưa - nơi từng là mái ấm nhỏ bà Tương cưu mang người lính trẻ. Giờ đây ngôi nhà cũ ấy chỉ để thờ phụng, Tuấn và gia đình nhỏ chuyển ra rìa làng để thuận tiện buôn bán. Ngôi nhà im lìm bên rặng tre già. Một đứa trẻ chăn bò hỏi:

- Ông tìm ai vậy?

Ông Trường cười nhẹ, giọng như gió thoảng, trả lời bé:

- Ông tìm lại một thời mà trái tim còn trẻ!

Ngược vào Tây Nguyên, ông Trường mang theo một nắm đất quê trong khu vườn ấy, đặt dưới gốc cà phê trước hiên nhà. Bà Dần chăm cây ấy kỹ hơn cả rẫy sau vườn. Mỗi mùa hoa về, hương cà phê thơm ngát như mùi áo cũ năm nào. Hai ông bà nhặt nhạnh lại kí ức, chắp nối để vượt qua mấy mùa mưa Tây Nguyên trọn vẹn. Vết thương của ông Trường thỉnh thoáng trái chứng nhưng nhức nhưng lạ thay, nó không còn buốt tận tim, không còn trống tráng vời vợi trong ông nữa. Bà Dần vẫn tỉ mẩn từng bát cháo, ly cà phê sữa cho ông, vẫn đôi lần lén nhìn như muốn tìm lại trong người đàn ông tóc bạc trước mặt cả một khoảng trời con gái trong trẻo và yêu đời. Rồi cũng là lén mỉm cười. Lòng bà an yên như đám mây trắng đang lửng lơ trên vạt trời xanh xanh trong trẻo ngoài kia.

Đất trời Tây Nguyên thêm một mùa cà phê trắng xoá.

Người đời hay bảo: Khi được sống cùng với người mình thương thì thời gian như dừng lại. Nhưng đó chỉ là cách nói phóng đại cho vui thôi. Có ai chống được quy luật đâu. Tuổi tác, di chứng làm ông yếu dần. Bác sĩ bảo không bệnh gì nặng, chỉ là tuổi đã chạm ngưỡng cuối. Ông nhất quyết không về quê, ông đòi ở lại bên bà - trong căn nhà bình yên, với những chiều ngồi bên nhau uống trà, kể chuyện con cháu, và ngắm mây bay qua núi.

Một buổi sáng, ông ra đi nhẹ như khói. Mắt vẫn mở, nhìn về phía chân trời.

Bà Dần không khóc. Bà chỉ mặc cho ông chiếc áo lính cũ - chiếc áo bà giữ suốt cả khoảng thời gian đợi chờ ông. Trước khi khép nắp áo quan, bà đặt vào tay ông chiếc khăn tay ấy. Kỉ vật là của ông. Bà chưa theo ông được thì hãy giữ vật làm tín, đợi bà thêm lần nữa.

Mùa sau, cây cà phê ông mang đất quê về bón dưới gốc bỗng nở hoa sớm hơn mọi năm. Hoa phủ trắng cả một khoảng đồi. Người ta bảo, có những tình yêu đi qua chiến tranh, đi qua cả cái chết, mà vẫn không tàn. Nó chỉ hóa thành hương, thành cây, thành mùa… để lại cho người sau một niềm tin dịu dàng:

Tình yêu, nếu đủ sâu - sẽ luôn trở lại.

P.T.T.H

. . . . .
Loading the player...