07-09-2026 - 07:04

Bút ký Làng bên dòng Lam của Đặng Viết Tường

Dải đất hẹp bên bờ nam sông Lam, thiên nhiên không ưu đãi phù sa màu mỡ. Đất đai khô cằn, ngô lúa không tươi tốt. Nhưng con người thông minh, cần cù, chịu thương, chịu khó học hành, đỗ đạt khoa cử. Tạp chí Hồng Lĩnh số 238+239 giới thiệu bút ký “Làng bên dòng Lam” của tác giả Đặng Viết Tường

Tôi sinh ra bên dòng Lam thơ mộng hiền hoà. Dòng Lam bắt nguồn từ dãy Trường Sơn, Rào Rum, Ngàn Sâu, Ngàn Phố chảy qua làng tôi rồi đổ ra cửa Hội Thống. Làng quê yên ả với bao huyền thoại ngàn năm văn vật. Tôi lớn lên khi từng đàn chim sắt bay qua bầu trời quê hương. Rồi địch ném bom, xuống làng tôi, xuống kho A, bến đò Giang Đình. Kho sập. Nhà cháy. Chiến tranh. Lũ trẻ chúng tôi đi sơ tán. Xã viên hợp tác xã ở lại bám trụ mảng làng, vừa sản xuất, vừa chiến đấu.

Ngoại tôi kể làng tôi gọi là Uy Viễn vốn là một thôn của xã Tiên Điền, sau giảm tô nhập vào làng Tả Ao và Tiên Cầu… thành xã Xuân Giang. Tôi chứng kiến thực hiện khoán 10, khoán 100, đầu thời kỳ đổi mới, cắt một bộ phận dân cư, diện tích thành lập thị trấn Nghi Xuân. Sau đó, sáp nhập xã Tiên Điền với thị trấn Nghi Xuân, đổi tên thị trấn Tiên Điền. Thực hiện cải cách hành chính, sáp nhập các xã thuộc tổng Phan Xá cũ làm một địa phương, lấy danh xưng xã Tiên Điền.

Làng tôi là đất “Giang Đình cổ độ” (Nghĩa là: Bến đò cổ Giang Đình), một cảnh đẹp của Nghi Xuân bát cảnh. Sách Hoan Châu phong thổ ký của Hoàng giáp Trần Danh Lâm viết: Giang Đình là bến đò chung của Tả Ao và Uy Viễn, ngôi làng cổ trù phú bên dòng Lam thơ mộng ngút ngàn tre xanh, đẹp dung dị với cây đa, chợ Đình, giếng Kẻ do ông Tả Ao lấy mạch (giếng Kẻ xưa ở khu vực ngân hàng nông nghiệp huyện nay đã bị lấp). Nước giếng ngọt nên thương thuyền vào lấy để dành cho những chuyến đi biển dài ngày. Giếng Kẻ có nhiều huyền thoại. Sách Nghi Xuân địa chí của Lê Văn Diễn viết rằng, chợ Đình do ông Đặng Lương Công lập ra. Ban đầu chợ có tên là chợ Văn (Tên chợ đặt theo tên huý của ông Lương Công), mỗi tháng họp 9 phiên, sau đó chợ họp 6 phiên vào mồng 2 mồng 7, 12, 17, 22, 27 hàng tháng. Hồi ông Xuân quận công Nguyễn Nghiễm về hưu, có dựng Giang Đình (nhà một gian 4 mặt để trống) - trên bến sông làm nơi hội Tư văn sinh hoạt, đón rước những người thi đỗ vinh quy bái tổ mới đổi tên là chợ Đình. Khi về thăm lại Giang Đình, cụ Nguyễn Du cảm hứng viết áng thơ chứa chan tâm sự: “Nhớ thuở cha xưa nhớ những ngày/ Ngựa xe nhộn nhịp bến sông này/ Thuyền tiên lướt sóng in rồng dấu/ Tàn quý che mây tựa hạc phi”…

Tôi lớn lên thì chợ Đình sơ tán để tiêu thổ kháng chiến. Bến Giang Đình vẫn còn từng bậc được lát đá phẳng. Chợ vẫn còn nhiều cây đa cổ thụ và nhiều cây phượng sum suê, râm ran khúc nhạc ve, hè về phượng đỏ rực tán lá. Có lần bà tôi kể, vào năm 1930 - 1931 cờ đỏ búa liềm tung bay trên cây đa chợ Đình. Cổng chợ là nơi lũ quan Tây và việt gian hành quyết người chí sĩ yêu nước Trịnh Khắc Lập, trong phong trào chống sưu thuế trung kỳ vào hồi đầu thế kỷ XX.

Dải đất hẹp bên bờ nam sông Lam, thiên nhiên không ưu đãi phù sa màu mỡ. Đất đai khô cằn, ngô lúa không tươi tốt. Nhưng con người thông minh, cần cù, chịu thương, chịu khó học hành, đỗ đạt khoa cử.

Neo đậu. Ảnh: Quang Vinh

Đất làng tôi sinh ra nhiều người tài hoa, đức độ hết mực yêu nước thương nòi. Đó là các bậc tiền nhân như Nguyễn Công Trứ, cụ Đặng Hoành Từ Tri phủ Thiệu Thiên, ông ngoại Tiến sĩ Nguyễn Khản. Đặng Công Thái, tự Mộ Trực, tác giả Kinh dịch Quốc âm Diễn nghĩa. Đặng Tổng binh sứ Thái Nhạc hầu và  Đặng Quốc Đống con rể Xuân quận công Nguyễn Nghiễm. Làng tôi có nhiều liệt nữ văn hay, chữ tốt đầy đủ công - dung - ngôn - hạnh như cụ Phan Thị Minh, Đặng Thị Dương, Đặng Thị Nghi, Đặng Thị Minh, Nguyễn Thị Diệu Muội, Đặng Thị Quyên, Đặng Thị Hồ, Đặng Thị Ba. Đó là niềm tự hào, truyền thống của làng xưa.

Cây đa, bến nước, sân đình làng tôi từng chứng kiến bao thăng trầm của lịch sử, của cách mạng. Quê hương tôi là một địa chỉ đỏ của Đảng ở tỉnh Hà Tĩnh. Trong phong trào Xô Viết tên tuổi của các bậc tiền bối Đặng Ất, Lê Tính, Lê Ngân, Nguyễn Lân, Lê Đáo, Đặng Tảo, rồi lớp cán bộ Đảng 36 - 39 như Đậu Giản, Đặng Diễn, Đặng Thị Ba… được nhân dân nâng niu, coi trọng.

Lũ quạ sắt đánh phá quê tôi tan hoang. Ngày ấy dọc con đường xuyên huyện thành vùng trắng, “nhà không vườn trống”. Các trọng điểm kho A, bến đò Giang Đình, cầu Sắt, cầu Mu Lít, các xóm Lam Hồng, Lam Sơn, Lam Giang, Lam Thuỷ, Hồng Tiến, An Tiên, Tiên Hoà, Tiên Thuận… bị máy bay Mỹ chà đi xát lại không biết bao nhiêu lần mà kể, đất đá bị xới tung lên. Chúng ném bom vào khu dân cư, trường học, bệnh xá, nơi nghi có mục tiêu quân sự. Quê hương tiêu điều, xơ xác, đói cơm, áo rách vá chằng vá đụp. Song nhân dân một lòng đoàn kết quanh Đảng, bám trụ làng, vừa sản xuất, vừa chiến đấu. Làng sơ tán xa trọng điểm, thỉnh thoảng lại có tiếng khóc của mẹ, của chị vọng ra từ đám tang, lễ truy điệu liệt sĩ, tử sĩ vừa được tổ chức báo tử về địa phương và thân nhân. Từ đau thương thành hành động yêu nước, đóng góp công sức giúp bộ đội. Làng có 500 hộ nhường nhà cho bộ đội đóng quân. Nhiều người tự nguyện dỡ nhà, chặt tre pheo, cây gỗ ủng hộ bộ đội pháo cao xạ làm công sự sẵn sàng chiến đấu bắn máy bay Mỹ xâm phạm bầu trời. Dỡ nhà, chặt gỗ bắc cầu cho xe pháo qua trọng điểm, vào trận địa.

Chiến tranh đã đi qua mảng làng bên dòng Lam đã 53 năm ròng. Cây cối đã đâm chồi, nẩy lộc. Quê tôi, nhà cửa đã ngói hoá 100%, nhà tầng kiểu nhà vườn mọc lên san sát. Làng tôi đã thay da, đổi thịt phồn vinh. Đường thôn, ngõ xóm đêm đêm ánh điện lung linh, nhấp nháy bóng trang trí, như muôn vàn ngôi sao trên dải Ngân Hà bầu trời mùa hạ. Mùa bóng đá World Cup 2026, tivi cỡ lớn, đủ các hãng điện tử thi nhau phát sóng, hỗ trợ người dân thưởng thức bóng đá đỉnh cao. Đường thôn, ngõ xóm rộng thênh thang, nhựa rải thảm. Đường xuyên tuyến các xã Đan Hải, Tiên Điền, Nghi Xuân, Cổ Đạm, đường biển từ núi Hồng Lĩnh đến cầu cửa Hội to rộng, 2 làn, 4 làn xe. Các điểm trường học xây cao tầng, khang trang to đẹp hơn nhiều lần so với trước. Con em được đến trường 100%, chuẩn hoá trung học cơ sở, trung học phổ thông. Làng tôi đang chuyển mình đi lên, từng bước hiện đại hoá. Chợ Đình đang xây dựng hiện đại, xứng đáng với điểm kinh tế - xã hội trên quê hương văn vật. Chợ đã dời sang xóm làng Nghè, đổi tên chợ Giang Đình. Nay chợ vẫn tấp nập, gấp trăm lần ngày xưa. Bến đò Giang Đình thuyền máy đuôi tôm đậu san sát. Trên bộ xe tải, xe con, xe máy chạy vào chạy ra như mắc cửi. Phố xá mọc lên ven huyện lộ. Dòng sông Lam mãi xanh ngắt hiền hoà. Đàn bò vàng ung dung gặm cỏ ven bờ đê hữu sông Lam. Màu xanh sông nước in bóng núi Hồng. Ông ngư phủ bình thản gõ ván thuyền lạch cạch, xua đàn cá vào lưới ni lông… Mảng làng bên sông Lam lại trở thành nơi đô hội của vùng đất địa đầu Hà Tĩnh. Ai đến làng tôi lần đầu chắc chắn không nhận ra dấu vết chiến tranh. Vết thương ngoài da đã liền miệng nhưng nỗi đau vẫn giằng xé tâm hồn, chưa thể nguôi ngoai.

Ngược dòng thời gian, thị trấn quê tôi được thành lập vào năm 1989. Xóm Lam Thuỷ, chợ Đình thuộc xóm Lam Giang, một phần xóm Lam Hồng và Lam Sơn, tách khỏi xã Xuân Giang, (ngày nay thuộc xã Nghi Xuân). Hồi trước, về thăm xã nhà, tôi gặp anh Nguyễn Sơn, nguyên Chủ tịch xã Xuân Giang (cũ), vốn là người lính Trường Sơn năm xưa, từng để lại một phần sức lực, máu xương ở chiến trường thời đánh giặc. Tiếp tôi, anh trao cho tôi đọc cuốn sổ truyền thống của xã ghi chép thống kê: Trong hai cuộc kháng chiến vệ quốc hào hùng, xã có 205 liệt sĩ, 90 thương binh. Tôi còn nhớ rất rõ lời anh bộc bạch: “Năm 1997, xã nhà xây dựng xong tượng đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ, bằng nguồn tiền dân và con em xa quê đóng góp. Công tác đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc thương bệnh binh được địa phương quan tâm chính bằng nội lực của người sống đối với người đã khuất. Xã đã lập hồ sơ đề nghị nhà nước phong tặng đơn vị anh hùng. Địa phương có 3 người mẹ được Nhà nước phong tặng danh hiệu: “Mẹ Việt Nam anh hùng”. Nay các mẹ đã mất”.

 Thời cổ, làng Uy Viễn với 3 thôn: Tăng Phúc, Văn Liêu và Võ Trạch. Sau Cách mạng tháng 8, nhập với xã Tiên Điền. Làng tôi được đổi tên là Xuân Đình và Xuân Phương. Sau giảm tô, cải cách ruộng đất, Xuân Phương đổi tên gọi Tiên Hoà, nhập xã Tiên Điền. Xuân Đình chia về xã Xuân Giang. Thời tổ đổi công, hợp tác hoá, thôn Xuân Đình có 4 xóm là Lam Thuỷ, Lam Giang, Lam Sơn và Lam Hồng. Năm 1989, thị trấn chia đất Uy Viễn làm 3 khối 1, 2, 3. Gần đây, nhập khối 1 với 2, đặt tên thôn Giang Thuỷ. Khối 3 đặt tên thôn Giang Đình. Cải cách hành chính, bỏ huyện lập xã quy mô lớn, sắp xếp nhập thôn Giang Thuỷ với Giang Đình làm một thôn. Thôn mới hầu hết nằm trong địa dư làng Uy Viễn cổ, ở bên bờ sông Lam. Ý nguyện người dân làng bên sông Lam với quan điểm bảo tồn văn hoá hồn cốt quê hương, mong muốn tên cổ thôn Uy Viễn.

Với hai bàn tay trắng từ trong đổ nát của chiến tranh, sau 52 năm hàn gắn, xây dựng, mảng làng bên dòng Lam nhiều lần đổi tên phức tạp như trên. Ngày nay, mảng làng bên dòng Lam đã đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, quy mô hơn. Tuy chưa hẳn là đất giàu vật chất, còn phải trải qua dâu bể, gió Lào rát bỏng, bão gió phong ba, nhưng quê tôi đã gặt hái hoa thơm, trái ngọt đầu mùa.

Tháng 6/2026

          Đ.V.T

. . . . .
Loading the player...