Tạp chí Hồng Lĩnh Số 233 + 234 - Tết Bính Ngọ 2026 trân trọng giới thiệu bài viết “Nghi lễ hầu đồng ngày xuân - một bảo tàng văn hóa Việt” của tác giả Nguyễn Khắc Thuần
Tín ngưỡng thờ Mẫu (hay thường gọi Đạo Mẫu, thờ Mẫu Tam Phủ, Mẫu Tứ Phủ) ở Việt Nam khá phổ biến, có nguồn gốc lịch sử và xã hội sâu xa, thấm đẫm tính nhân văn sâu sắc. Tháng 12/2016, Hội nghị lần thứ 11 của UNESCO đã ra Quyết định công nhận “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ của người Việt” là Di sản văn hóa phi vật thể - Đại diện cho nhân loại. Nghi lễ Hầu đồng khi Tết đến Xuân về là một hoạt động cốt lõi trong thực hành tín ngưỡng này.
Hầu đồng (hầu bóng) ngày xuân là một hình thức lễ nhạc gắn với nghi thức thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt, được đông đảo nhân dân thành tâm thực hiện với mục đích tôn vinh thần thánh và tạo cảm xúc, theo niềm tin con người giao tiếp với thần linh, thần linh để phù hộ quốc thái dân an, con người no ấm, hạnh phúc.
Theo các nghiên cứu của cố GS Ngô Đức Thịnh (1944 - 2020) nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu văn hóa Việt Nam: Hiện chưa có các tài liệu nào khẳng định được thời điểm ra đời của Hầu đồng. Tài liệu khảo cổ duy nhất được biết Hầu đồng đã có mặt từ thế kỷ XVIII, đó là bức chạm gỗ một cảnh lên đồng ở đình Cổ Mễ (tỉnh Bắc Ninh). Tuy vậy các nhà khoa học đều thống nhất cho rằng Hầu đồng ra đời từ thế kỷ XVI gắn với sự hiến thế giáng sinh của Liễu Hạnh – vị sứ thần duy nhất trong Tứ Bất tử của thần điện Việt. Truyền thuyết Liễu Hạnh giáng sinh đọc thơ với Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan ở Hồ Tây cho thấy sự manh nha của việc “giáng bút” (Thần, Tiên cho thơ phú) rất phổ biến ở thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.
Hầu đồng có tất cả 36 giá đồng, trong đó thanh đồng là chủ trì chính, trực tiếp thực hiện các nghi lễ, nghi thức nhằm tái hiện lại hình ảnh, tính cách, cuộc đời, công lao của vị Thánh được hầu. Vì thế trong Hầu đồng không bao giờ thiếu các cung văn, đó là người sẽ hát ca cùng ban nhạc các làn điệu hát văn phục vụ Hầu đồng. Hát chầu văn trong Hầu đồng phong phú về hình thức biểu diễn trong đó nổi bật là hát thi (văn thi), hát thờ (văn thờ) và hát lên đồng (văn hầu). Khi đất trời đã căng tràn sức xuân mọi người thành tâm tề tựu về điện thờ dâng hương, dâng lễ, tỏ lòng thành kính mong cầu sức khỏe, bình an, hạnh phúc, mọi việc hanh thông những giai điệu chầu văn khi thì dìu dặt khoan thai, lúc lại ngân nga trầm bổng, sâu lắng vọng vang càng tô đậm vẻ đẹp, khí thiêng của đất trời tiết xuân sang.
Hát chầu văn là hát lên những bài ca có nội dung ngợi ca sự linh thiêng của thần thánh và vẻ đẹp của tiên giới. Tùy theo cuộc đời, sự nghiệp của các vị thần đang hầu để có nội dung ca từ, tiết tấu, giai điệu âm nhạc, vũ điệu (múa) đi cùng linh hoạt thực hiện theo. Không khí linh thiêng, sự phấn khích của niềm tin và sự cộng hưởng của các chất men kích thích như trầu, rượu, thuốc lá/lào và ánh sáng lung linh của đèn, nến, mùi hương trầm, sắc màu của phục trang, thanh âm của nhạc cụ, một không gian ngưỡng vọng chân kính của người xem đã tạo nên một không gian huyền ảo, xa xôi mà gần gũi huyền bí mà trao truyền cảm xúc nơi gặp gỡ giao lưu của con người trần gian với thánh thần. Các Thánh Mẫu được hiện về nghe lời ca chúc tụng của các đệ tử, nghe hát và nghe cả những lời thỉnh nguyện thầm kín trong tâm đệ tử. Thánh Mẫu hoan hỷ ban tài, phát lộc cho “bách gia, trăm họ” và mọi người được nhận lộc Thánh với niềm tin hân hoan vô cùng. Tự tâm mọi người đều hướng về Thánh Mẫu và thầm mong những điều tốt đẹp đến với mình và mọi người, lan tỏa bao điều nhân ái.
Về thi, ca xướng lên trong Hầu đồng là sự kết hợp hài hòa giữa văn chương bác học từ phú, Đường thi và những bài ca dao lục bát, song thất lục bát, hát nói bình dị của văn học dân gian quen thuộc. Có sự gia công, đầu tư của các bậc túc nho, ca từ trong Hầu đồng được chải chuốt công phu giàu hình ảnh nhưng hết sức bình dị, quen thuộc, giàu nhạc tính, ngợi ca tiên giới uy linh qua hàng trăm làn điệu khác nhau mang đến sự biến đổi liên tục trong cảm xúc văn hóa người nghe.

Một buổi Hầu đồng ở Đền Hoàng Mười Nghệ An. Ảnh: Tư liệu
Trong 36 giá đồng ngàn xưa truyền lại, mỗi giá đồng thể hiện một nhân vật có tên tuổi và tính cách riêng. Giá các Đức Ông thì uy phong lừng lẫy, mua kiếm như nước, bắn cung như gió thoảng, giá các Cô thì dịu dàng, duyên dáng, e ấp, giá cái Cậu thì tình nghịch, hồn nhiên… Thực hành Hầu đồng các thanh đồng múa, hát các điệu theo tính cách của từng giá đồng, khán giả tấu lên
những làn điên chầu văn lời ca tả nhân vật của giá đồng, tả quang cảnh nhân vật xuất hiện, ngợi ca thần tích, công đức của các Thánh. Trang phục của các Thánh tương ứng với 36 giá đồng rất phong phú nhưng được quy định chặt chẽ, phụ thuộc vào sự tích của nhân vật. Nếu sinh ra ở miền Nhạc phủ (rừng xanh) mặc phục trang có những họa tiết dân tộc thiểu số, các Cô Đôi Cam Thường lại mặc áo tứ thân điển hình của thôn nữ vùng đồng bằng. Phục trang của các Chầu Bà thường rất lộng lẫy vì đó là hóa thân của cái Mẫu. Các phục trang đi cùng như khăn, mũ, hài cũng được thiết kế rất đẹp, tinh tế, công phu. Các trang sức vòng cổ, vòng tay được chế tác cầu kỳ tinh xảo cho thấy sự đa dạng, phong phú trong phục trang, đạo cụ người Việt xưa. Vì thế, Hầu đồng có thể được coi là cuộc hội nhập sống động của thi ca, âm nhạc và vũ đạo dân gian, mỹ thuật dân gian.
Về thi ca đây là sự tiếp biến nhuần nhuyễn của thi ca bình dân và thi ca bác học.Có sự tham gia của các bậc túc nho ca từ trong Hầu đồng được biên soạn công phu, lời ca giàu điển tích, giàu hình ảnh, nhạc điệu, “ý tại ngôn ngoại" gợi cho người nghe nhiều cảm xúc. Sự phong phú về làn điệu khi hát đã làm lời ca bay bổng, du dương mà gần gũi đi vào tâm thức, trao truyền cảm xúc.
Về âm nhạc, đàn Nguyệt cùng phách, cánh, sênh, trống chầu, chuông (nhỏ) được Hòa âm theo lối phối khí truyền thống, tiết tấu độ biến hóa theo nội dung lời ca. Sự tiếp thu những nét đẹp trong nhạc cụ dân gian đã hình thành nên những liên khúc có khả năng thể hiện các nội dung lớn của các huyền thoại thánh thần.
Về vũ đạo, múa trong Hầu đồng còn gọi là múa thiêng, thể hiện niềm tin vào thần thánh uy linh. Các hình thức thể hiện (ngôn ngữ múa) như múa tính cách (thể hiện tính cách nhân vật), múa trang trí (chú trọng ngôn ngữ tạo hình), múa mô phỏng (cưỡi ngựa, chèo thuyền, đi mây về gió...) đã được vận dụng tích hợp đi cùng với lời ca vừa minh họa cho nội dung lời ca vừa đẩy cảm xúc của người xem lên nhiều cung bậc mới.
Không gian thực hành tín ngưỡng Hầu đồng đa màu sắc với những giải pháp mỹ thuật tương ứng, tượng trưng và khái quát. Trang phục được lựa chọn tinh tế, màu đỏ tượng trưng cho trời cao, quyền lực và sự chở che, màu xanh lá cây tượng trưng cho núi rừng, cây cỏ và sự hòa nhập vào thiên nhiên, màu trắng tượng trưng cho nước, sự thanh khiết và bình yên. Các chi tiết của phục trang được lựa chọn từ các chất liệu quý: Áo dài màu đỏ thẫm may từ vải gấm hoặc lụa tơ tằm, thêu hoa văn rồng phượng đi cùng khăn vấn đầu và khăn dải lụa cùng màu. Áo dài trắng thêu hình sông nước, hoa sen. Các phụ kiện vòng cổ, vòng tay được lựa chọn từ vàng, bạc, ngọc với những đường nét chạm khắc tinh xảo. Sống động trong không gian cờ ngũ sắc, quạt giấy, quạt lụa, quạt lông vũ được pha màu tinh tế, tương ứng. Kiếm, đao, ô dù được cách điệu về kích thước và sắc màu.
Giao hòa, hội tụ nhiều lĩnh vực văn hóa Việt, Hầu đồng đã trở thành một bảo tàng sống động văn hóa Việt, thu hút người xem, mang đến cho người xem nhiều cảm xúc thiêng liêng, chân ái giữa những ngày xuân. Vì thế Hầu đồng sống mãi cùng sự phát triển của Văn hóa Việt Nam.
Xin mượn nhận xét của GS.TS Laurel Kell- trưởng bộ môn Nhân lực Bảo tàng tự nhiên (Mỹ) người nhiều năm nghiên cứu về Hầu đồng, đạo Mẫu thay cho lời kết: "Thờ Mẫu là tín ngưỡng dân gian phổ biến ở Việt Nam. Mẫu là vị tối thượng, mọi người có thể tìm đến trong mùa xuân để chia sẻ những rắc rối, hy vọng, ước muốn. Điểm hấp dẫn nhất của tín ngưỡng này là Hầu đồng, nghi lễ lên đồng. Đây là nghi thức tâm linh độc đáo, khi ông đồng, bà cốt mặc trang phục của thần linh, nhảy múa trong âm nhạc và lời ca miêu tả vị thần đó, mọi người được tận hưởng bầu không khí lễ hội xuân độc đáo, linh thiêng, vui tươi, theo dõi hàng giờ không biết mệt vì được sống trong không gian, tín ngưỡng của riêng họ” giữa những ngày xuân.. (2)
N.K.T
_____________________
(1) GS Ngô Đức Thịnh - Đạo Mẫu Việt Nam NXB Tri thức. 1999.Tr 18
(2) Báo Thanh niên tháng 8/2012