05-11-2013 - 08:15

Đoàn nhà văn Trung Quốc sang thăm và làm việc với Hội nhà văn Việt Nam

Nhận lời mời của nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, đoàn nhà văn Trung Quốc do nhà văn Thiết Ngưng, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội Nhà văn Trung Quốc dẫn đầu đã sang thăm và làm việc với Hội Nhà văn Việt Nam (từ 3-6/11/2013).

Đoàn gồm có các nhà văn, nhà thơ:
- Nhà văn Thiết Ngưng, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội Nhà văn Trung Quốc
- Nhà văn Ngải Khắc Bái Nhi - Mễ Cát Đề, Tổng biên tập tạp chí Nhà văn Trung Quốc
- Nhà văn Lưu Dũng, Giáo sư khoa tiếng Trung, Trường đại học Thanh Hoa
- Nhà văn Ngụy Vi, Cán bộ Hội nhà văn tỉnh Quảng Đông
- Nhà văn Thứ Nhan La Bố, cán bộ Hội liên hiệp các Tổ chức văn nghệ Tây Tạng.
- Nhà văn Trương Đào, Phó trưởng ban Liên lạc đối ngoại Hội Nhà văn Trung Quốc.

Tối 3-11, đồng chí Nguyễn Thị Thu Hà, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy TPHCM đã có buổi tiếp thân mật đoàn nhà văn Trung Quốc, do nhà văn Thiết Ngưng, Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch Hội Nhà văn Trung Quốc dẫn đầu, nhân chuyến thăm và làm việc tại TPHCM.
1
Phó Bí thư Thành ủy TPHCM Nguyễn Thị Thu Hà trao quà lưu niệm tặng nhà văn Thiết Ngưng, Chủ tịch Hội Nhà văn Trung Quốc. Ảnh: CAO MINH
Tại buổi tiếp, đồng chí Nguyễn Thị Thu Hà nhấn mạnh, trải qua bao thời gian, tình hữu nghị hai nước Việt Nam - Trung Quốc luôn được vun đắp và tăng cường, thể hiện rõ nhất qua các chuyến thăm và làm việc của nhiều lãnh đạo cấp cao hai nước. Điều này thể hiện sự tôn trọng, tình đoàn kết hữu nghị giữa Đảng Cộng sản, Chính phủ và nhân dân hai nước Việt Nam - Trung Quốc.
Phát biểu tại buổi tiếp, nhà văn Thiết Ngưng, bày tỏ: “Đây là lần đầu tiên tôi và các thành viên trong đoàn đến TPHCM. Chúng tôi biết TPHCM qua truyền hình, qua thông tin mạng nhưng có tận mắt chứng kiến sự phát triển, sự năng động của một thành phố trẻ như TPHCM chúng tôi rất ấn tượng, vui và xúc động. Chính phủ Trung Quốc rất xem trọng việc giao lưu kinh tế, văn hóa giữa nhân dân hai nước. Thông qua văn hóa, văn học sẽ góp phần hiểu sâu về nhau hơn. Tôi mong rằng sắp tới sẽ có những tác phẩm văn học Việt Nam được chuyển ngữ và xuất bản tại Trung Quốc nhằm giao lưu, tạo quan hệ gần gũi trong đời sống văn học để nhân dân hai nước tăng cường hiểu biết.".(Nguồn: SGGP)

Xin giới thiệu với bạn đọc đôi nét về nhà văn Thiết Ngưng:

1

Nữ nhà văn Thiết Ngưng (ảnh), họ Khuất, sinh tháng 9 năm 1957, tại Bắc Kinh; quê cha đất tổ huyện Triệu, tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc. Sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông, chị đã cùng những thanh niên trí thức đi lao động ở vùng nông thôn Bác Dã.
Năm 1975 bắt đầu công bố tác phẩm văn học; Năm 1982 gia nhập Hội Nhà văn Trung Quốc.
Nhà văn Thiết Ngưng đã từng đảm nhiệm các chức vụ: Biên tập tiểu thuyết của tạp chí “Hoa Sơn”, Phó chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật tỉnh Hà Bắc; Uỷ     viên BCH, Chủ tịch, Phó bí thư Đảng đoàn Hội Nhà văn tỉnh Hà Bắc; Uỷ viên khoá 4, Phó chủ tịch khoá 5, khoá 6, Chủ tịch khoá 7, khoá 8 Ban Chấp hành toàn quốc Hội Nhà văn Trung Quốc; Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khoá 16, khoá 17; Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khoá 18; Giáo sư kiêm chức của các trường Đại học Hà Bắc, Đại học Sư phạm Hà Bắc, Đại học Thượng Hải.
Nhà văn Thiết Ngưng đã xuất bản nhiều tác phẩm: Các bộ truyện dài “Cửa hoa hồng”, “Thành phố không mưa”, “Thiếu nữ tắm”, “Hoa gạo”; Các bộ truyện vừa “Đống rơm”, “Đối mặt”; các tập truyện ngắn “Chơi với trời chiều”, “Ôi, Hương Tuyết”, “Câu chuyện tháng sáu”; Tổng tập “Thiết Ngưng văn tập” (5 quyển), v.v…cùng trên 100 thiên (bộ) tản văn, kịch bản văn học điện ảnh, với tổng dung lượng trên 30 triệu chữ Hán.
Tập tản văn “Đêm trắng của thiếu nữ” được trao Giải thưởng văn học Lỗ Tấn lần thứ nhất (1995-1996). Truyện vừa “Xa mãi là bao lâu” được trao Giải thưởng văn học Lỗ Tấn lần thứ hai (1997-2000). Bộ phim truyện nhựa cải biên từ truyện ngắn “Ôi, Hương Tuyết” (do bà viết kịch bản) được trao Giải thưởng cao nhất phim trẻ tại Liên hoan phim quốc tế Berlin lần thứ 41. Bộ phim điện ảnh “Thiếu nữ áo đỏ” (cải biên từ tiểu thuyết      cùng tên của bà) được trao Giải thưởng phim truyện ưu tú “Giải Kim Kê”, “Giải Bách Hoa” điện ảnh Trung Quốc năm 1985.
Một phần tác phẩm của Thiết Ngưng đã được dịch sang các thứ tiếng nước ngoài, được xuất bản ở các quốc gia: Anh, Pháp, Đức, Nhật, Nga, Đan Mạch, Tây Ban Nha, Việt Nam, v.v…
Những tác phẩm của nhà văn Thiết Ngưng đã được dịch sang tiếng Việt và xuất bản và đăng tải ở Việt Nam.

111

Đến nay, bà có 4 bộ trường thiên tiểu thuyết, thì đã có 3 bộ được chuyển ngữ sang tiếng Việt, đó là:
Bộ tiểu thuyết “Thành phố không mưa”, Sơn Lê dịch, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, ấn hành năm 2004
Bộ tiểu thuyết “Người đàn bà tắm”, Sơn Lê dịch, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, ấn  hành tháng 2 năm 2006
Bộ tiểu thuyết “Cửa hoa hồng”, Sơn Lê dịch, Nhà xuất bản Phụ nữ, ấn hành  tháng 3 năm 2007
Bà cũng đã có một tập truyện ngắn dịch sang tiếng Việt. Đó là “Chơi vơi trời chiều”, Sơn Lê dịch, Nhà xuất bản Hội Nhà văn liên kết với Công ty phát hành Nhã Nam, ấn hành ngày 31 tháng 12 năm 2007
Nhiều truyện ngắn của Thiết Ngưng đã được chuyển ngữ sang tiếng Việt và đăng tải trên báo chí Việt Nam, được giới phê bình và độc giả hoan nghênh.
Truyện ngắn “Phòng khám phụ khoa” của Thiết Ngưng, được giới lý luận phê     bình văn học Trung Quốc đánh giá là “một tìm tòi đáng quý trong khai thác đề tài mới”, mổ xẻ nội tâm của tầng lớp phụ nữ bước vào tuổi tiền mãn kinh. Bản dịch của dịch giả Vũ Phong Tạo, đăng trên tạp chí “Nhà văn” của Hội Nhà văn Việt Nam, số 6-2011, được trao Tặng phẩm Tác phẩm hay tạp chí Nhà văn năm 2011.
Gần đây, một số truyện ngắn đặc sắc “Ôi, Hương Tuyết” (được trao Giải thưởng truyện ngắn ưu tú toàn quốc năm 1982), “Lẩu”, “Mũ của Irina”(được trao “Giải thưởng Văn học nhân dân cúp Mao Đài” lần thứ bảy - 2009); Truyện cực ngắn “Một việc nhỏ”, “Chạy trốn”; Cùng một số bài phát biểu của nhà văn Thiết Ngưng về thơ ca, về văn học thiếu nhi, về truyện cực ngắn, về giao lưu văn học quốc tế, cũng được dịch sang tiếng Việt và đăng tải trên báo, tạp chí văn học nghệ thuật có uy tín của Việt Nam, thật sự là những món quà quý, chào đón và chúc mừng Đoàn đại biểu nhà văn Trung Quốc, do nhà văn Thiết Ngưng, Chủ tịch Hội Nhà văn Trung Quốc dẫn đầu, sang thăm  và làm việc với Hội Nhà văn Việt Nam.

VŨ PHONG TẠO
Nồi lẩu
Truyện ngắn của THIẾT NGƯNG

Hai người tay trong tay đứng bên cửa sổ ngắm tuyết. Tuyết đã rơi từ sáng sớm, cây lựu trước sân giống như được khoác thêm chiếc áo len trắng vậy, trông vô cùng ấm áp.
Cây lựu đó tuy chỉ cao hơn đầu người tí chút nhưng không vì thế mà ít quả. Thu rồi đếm sơ sơ cũng có hơn bốn chục trái, cành nào cành nấy trĩu cong sát đất. Thời tiết khi đó vẫn còn chưa lạnh. Bà kéo ông ra trước cây lựu, giọng điệu vừa có chút khâm phục vừa mang vẻ cảm khái: Trông nó mệt mỏi quá!
Cứ như cây lựu đó là một bà bầu trong nhà họ vậy.
Ông bảo: “Tôi không nghĩ cây biết mệt mỏi!”.
Bà cãi: “Tôi bảo nó mệt là nó mệt!”.
Ông cười dòm dòm bà: “Bà này!”.
Hôm nay đứng trước cửa sổ, bà lại bảo ông, cây lựu trong tuyết khoác chiếc áo len trắng thật ấm áp.
Ông bảo: “Sao tôi không thấy vậy?”.
Bà cãi: “Tôi lại cứ thấy vậy đấy!”.
Ông cố ý làm như đang tranh luận: “Thân cây phủ đầy tuyết thì sao mà ấm áp được chứ?”.
Bà gấp gáp lắc nhẹ tay ông: “Tôi bảo ấm áp là ấm áp mà!”.
Ông nói vẻ hối lỗi: “Được rồi, được rồi! Bà bảo ấm áp tức là ấm áp!”.
Bà cười, biết là ông sẽ phải nói như thế, và cũng vì biết ông sẽ đáp lại như thế nên trong lòng bà cảm thấy vô cùng ấm áp.
Ông tám mươi bảy.
Bà tám mươi sáu.
Ông là chồng của bà.
Bà là vợ của ông.
Từ khi lấy nhau cho đến nay ông đều nhất nhất chiều theo tính nết của bà. Ông để bà quản lý gia đình, nhường nhịn bà mỗi khi bà giận dỗi, để bà quyết định phong cách ăn mặc cho mình, để bà lau chùi vài thứ đồ đồng, đồ bạc trong nhà gồm vẻn vẹn một đôi bát bạc, một đôi đũa bạc và một cái nồi lẩu bằng đồng đỏ được dùng mỗi dịp tết đến xuân về.
“Tuyết rơi đẹp thế này, chúng ta phải ăn lẩu mới được!”. Bà rời khỏi cửa sổ rồi đề nghị.
“Thế thì ăn thôi!”. Ông nắm tay bà hưởng ứng.
Hai người bèn ngồi xuống chiếc ghế sofa hai chỗ cạnh cửa sổ đợi cô Điền đến.
Cô Điền là người giúp việc theo giờ của gia đình, mỗi tuần đến hai lần để quét dọn nhà cửa và mua thực phẩm. Hôm nay vừa khéo đúng ngày cô Điền sẽ đến làm việc. Tuyết vẫn rơi nhưng ông bà không hề lo cô giúp việc kia vì bị tuyết cản trở mà không đến. Họ biết cô hơn 20 năm rồi. Đó là một quả phụ thật thà và hoạt bát.
Cô Điền đến rồi.
Quả nhiên gió tuyết không làm khó được cô.
Hai ông bà tranh nhau bảo với cô là hôm nay sẽ ăn lẩu.
Cô Điền nói: “Cụ ông cụ bà hôm nay thật là cao hứng!”.
Cô vẫn thường gọi hai người như thế.
Bà bảo: “Cao hứng hay không cũng còn phải xem thời tiết!”.
Cô Điền nói: “Thời tiết sao có thể quyết định tâm tình của con người được chứ? Cứ xem hai cụ đây, từ sáng sớm tinh mơ đã tay trong tay. Thật khiến cho lớp con cháu hậu bối chúng con chẳng biết giấu mặt vào đâu!”.
Quen biết đã quá nhiều năm rồi nên cô Điền cố tình đùa một câu hơi vô phép.
Hai ông bà kệ cho cô giúp việc nói cười vẫn ngồi im trên ghế, tay hai người cũng không vì thế mà rời nhau ra.
Thực ra thì cô Điền sớm đã quen với cảnh hai ông bà già ngồi bên nhau tay không rời tay này rồi. Từ khi biết họ đến nay, đã mười mấy năm rồi họ dường như vẫn ngồi như vậy. Họ ngồi ở đó xem cô lau mặt bàn, lau sàn nhà, hút bụi cho bộ sofa và rèm cửa sổ, phân loại rau dưa thịt cá để cho vào tủ lạnh…Gặp ngày thời tiết tốt, họ có thể sẽ rủ cô cùng họ đi chợ hoặc đi siêu thị. Cụ ông sau một hồi đi tới đi lui sẽ đột nhiên dừng chân bảo với cụ bà: “Gãi gãi chút!”. Đó là vì cụ bị ngứa lưng. Cụ bà cho tới tận khi đó mới tạm rời tay cụ ông, sau đó luồn tay vào áo để giúp ông gãi ngứa. Cô Điền ở bên cạnh chỉ có cười mà thôi. Họ vốn chẳng coi cô như người ngoài nhưng cũng chẳng có ý định mời cô làm việc cả tuần hay mời người khác đến làm gối với cô. Cô biết họ thậm chí cũng chẳng mấy mong mỏi bốn người con và lũ cháu của họ vẫn định kỳ về chơi thăm hỏi. Đó dường như là một sự làm phiền. Làm phiền thói quen tay trong tay ngồi bên nhau không một chút miễn cưỡng và vĩnh viễn không bao giờ biết chán của họ. Mỗi lần lũ con cháu về, họ chỉ muốn mau mau đuổi cổ chúng đi, thái độ không khỏi khiến người ta cảm thấy đôi vợ chồng già này đang giấu giếm mọi người chuyện gì đó. Thật không biết là duyên phận từ đời nào kiếp nào nữa! Cô Điền thở dài, vừa cảm thấy sự cô độc thê lương của bản thân đồng thời lại bị không khí yên lành tràn ngập khắp căn phòng này truyền nhiễm.
Ông giục cô Điền đi mua thịt cừu, bà thì bảo cô mang giấy ra ghi lại các thứ gia vị phụ liệu để khỏi quên. Cô Điền lấy từ trong bếp ra một tờ giấy đã được gấp vuông vắn trải ra bàn rồi nói: “Lần trước đi mua con đã ghi lại rồi. Con đọc để hai cụ nghe nhé, chẳng qua cũng chỉ có tào phớ, nước mắm tôm trong, hoa hẹ, tương ớt, dầu hoa tiêu, tỏi ngâm, rau cải bắp, rau thơm, bánh phở, đậu phụ đông…”. Cô Điền đọc xong, ông thủng thẳng bảo: “Cô quên không ghi dầu mè à?”. Bà chen vào: “Dầu mè ở nhà vẫn còn nửa lọ đấy!”. Ông lại bảo: “Còn tảo biển nữa. Lần trước đã quên rồi!”. Cô Điền vâng lời ghi thêm vào tờ giấy khoản tảo biển.
 Nhúng tảo biển là sáng kiến của ông. Sau khi ăn rồi bà cũng thích luôn.
Tảo biển quả là một món ngon.
Cô Điền nghe dặn dò xong bèn vội vàng ra chợ, trước khi đi vẫn không quên từ trong bếp bê ra một cái nồi lẩu bằng đồng đỏ nặng trịch đem đặt lên chiếc bàn ăn hình vuông trong căn phòng ăn kiêm luôn phòng khách của ông bà, cạnh đó lại để một hộp kem đánh răng và một miếng vải mềm nhỏ. Đó là một thói quen của bà. Cứ cách một khoảng thời gian bà lại phải lau chùi nồi lẩu. Lâu lâu không lau bà sẽ cảm thấy có lỗi với nó. Lần trước ăn lẩu xong bà vẫn còn chưa lau chùi. Cũng có đến non nửa năm rồi còn gì. Lần đó ông bà làm lẩu để chào đón cô cháu dâu mới chưa biết mặt.
Ông thấy bà định đi lau nồi thật bèn ngăn lại nói: “Hôm nay đừng lau nữa, cũng chỉ có hai ông bà già, Cứ nhất thiết phải cầu kỳ thế sao chứ?”.
Bà bảo: “Ờ! Nhất định phải như thế đấy! Hai người ăn cũng phải có cái nồi sáng choang mới được!”. Nói xong bèn rời ghế sofa đến ngồi bên bàn ăn cầm mảnh vải nhỏ lên, lại cầm tuýp thuốc đánh răng bóp vào đó một ít rồi bắt đầu công việc lau chùi quen thuộc.
Ông cũng đi đến ngồi xuống phía đối diện xem bà làm việc. Cái nồi đó quả thật là rất lờ nhờ, mà cũng có thể là mắt ông lờ nhờ. Ông nheo mắt nhìn, cái nồi lẩu trước mắt ông không những không bóng láng mà ngay cả đường nét cái miệng nồi cũng nhập nhèm chẳng rõ. Cả ông và bà đều bị bệnh đục thủy tinh thể. Ông bị hai mắt còn bà bị mắt bên phải. Bác sĩ nói đây là kiểu đục vỏ thủy tinh thể, chờ đến giai đoạn đục chín thì có thể tiến hành phẫu thuật. Ông đã hẹn với bà rồi. Đến lúc đó cả hai vợ chồng sẽ cùng nhập viện.
Bà vừa lau cái nắp nồi vừa nói: “Ông xem! Chỗ lau xong khác hẳn với chỗ chưa lau đấy!”.
Ông cảm nhận được sự hứng khởi của bà bèn phụ họa theo: “Đúng là khác hẳn nhỉ! Thế mới gọi là nồi lẩu chứ!”.
Hai ông bà đều thích ăn lẩu. Cũng nhờ ăn lẩu mà ông bà quen biết nhau. Hồi đầu thập niên 50 của thế kỷ trước, hai người vẫn còn đang tuổi thanh niên, cuối tuần đi cùng với đồng nghiệp của mình đến DongLaiShun1 ăn bữa lẩu. Những năm đó phổ biến kiểu “Lẩu cộng hòa”, thanh niên nam nữ chưa có gia đình rất yêu thích. Cái gọi là “cộng hòa” tức là một số thực khách không quen biết cùng ngồi ăn chung một nồi lẩu. Nước dùng là của chung. Giữa nồi có dải ngăn cách tượng trưng, giống như ngày nay người ta làm các vách ngăn cách trong văn phòng làm việc vậy. Lúc ăn mỗi người sẽ có một ô trong nồi để tự nhúng thịt cừu và các đồ ăn khác mà mình đã gọi. Tiền nồi lẩu và nước dùng thì bổ theo đầu người ăn nên rất tiết kiệm. Con người và môi trường ngày đó đều rất thuần khiết, không có SARS mà cũng chẳng có H7N9. Những con người xa lạ ngồi chung bàn, ăn chung nồi cũng chẳng e ngại tị hiềm gì, Cảnh mọi người vây quanh một chiếc nồi lớn đó quả có cái không khí bốn bể đều là anh em.
Hôm đó ông ngồi cạnh bà, sau khi ăn hết phần đồ ăn mình đã gọi bèn thò đũa sang gắp đồ ăn trong đĩa của bà. Hai đĩa vốn cũng để cạnh nhau mà. Trông ông khi đó không có vẻ là cố ý nên bà cũng ngại không muốn nói. Có điều khi thấy ông cứ liên tục gắp liền mấy gắp, anh bạn đi cùng bà bèn dùng đũa của mình gõ gõ lên thành nồi lẩu bảo: “Này này đồng chí! Cái nồi này là dùng chung nhưng đĩa thịt đó là của cá nhân người ta đấy!”.
Mọi người trong bàn cười ồ lên.
Lúc đó ông mới như sực tỉnh.
Vậy nhưng bà lại vì thế mà có cảm tình với ông, cũng giống như kiểu cảm tình mà ông dành cho bà vậy. Sau này ông bảo, hôm đó ông vừa ngồi xuống cạnh bà tim liền đập loạn lên. Bà chất vấn, có phải ông cố tình gắp đồ ăn trong đĩa của bà để gây sự chú ý không? Ông thật thà đáp, lúc đó ông chẳng nghĩ được nhiều như thế, mà cũng chẳng biết bản thân đang làm gì nữa. Thế rồi ông bà bắt đầu hẹn hò. Bà thì biết được ông là kỹ sư đường sắt – chả trách trông hơi ngây ngô. Ông thì biết bà là người thuyết minh trong một viện bảo tàng – chả trách mà khéo ăn khéo nói. Rồi hai người trở thành vợ chồng. Trong số đồ hồi môn của bà, ngoài một đôi bát bạc, một đôi đũa bạc ra, còn có cả một cái nồi lẩu bằng đồng đỏ.
Chiếc nồi đồng đó được truyền lại từ đời ông ngoại của bà. Nhà ông ngoại vốn là nghệ nhân làm nồi lẩu. Những nồi lẩu được gia công bằng tay đó chuyên để cung cấp cho hoàng cung. Chiếc nồi đồng đó của bà, đồng thì là loại đổng đỏ thượng đẳng, láng bóng nhưng không chói mắt. Vung cũng như mặt ngoài của nồi đều trang trí bình thường, chỉ có men theo cái cửa lò hình chữ Nhân có chạm khắc những cụm mây bằng đồng thau. Mỗi khi rỗi rãi bà lại mang chiếc nồi ra lau chùi, cắt đoạn tay áo cũ bà đã từng mặc, nặn một ít kem đánh răng hoặc phấn rôm vào mà lau. Bà là người thích sạch sẽ, có thể dùng bì lợn để đánh cho cái mặt kiềng đúc bằng sắt trên miệng bếp than tổ ong trở thành một miếng gương soi. Khi tinh thần của bà chuyên chú vào việc lau chùi nồi lẩu, không khí trong nhà chẳng hiểu sao đột nhiên trở nên rất sinh động, cái sự thèm ăn của ông cũng bị khơi dậy, cứ như sắp sửa được chén một bữa lẩu tại Donglaishun vậy.
Bà vốn đã từng làm lẩu cho ông ăn. Không có thịt. Chỉ có cải bắp và tép khô chấm với xì dầu. Sau khi ông bà kết hôn chính là thời điểm nghèo túng thực phẩm, thiếu thịt thiếu mỡ, ngay cả các loại thực phẩm phụ cũng phải mua bằng tem phiếu. Các gia đình bình thường rất hiếm khi sửa soạn được một nồi lẩu nhúng thịt – đi đâu mà mua thịt cơ chứ? Trong vòng tám năm, ông bà sinh liền 4 người con, quanh năm suốt tháng đều phải tính toán chi li, vá gấu giật vai. Tuy nhiên ông lại rất thích món lẩu tép khô rau cải hay rau cải tép khô đó của bà. Khi ông ngồi gần nồi lẩu nóng hổi đang sôi sùng sục đó, trái tim ông vụt trở nên ấm áp, có cảm giác như làn hơi nóng đang tỏa ra khắp nhà đó đang quyện chặt lấy ông, sưởi ấm cho ông. Trong nhà nhất định phải có nhiệt. Một nồi lẩu đang bốc khói hay một mặt kiềng bếp than tổ ong sáng choang, nơi có thể đặt trực tiếp bánh bao màn thầu lên đó để nướng đều khiến ông cảm thấy vô cùng quyến luyến. Chỉ có điều ông vốn vụng về trong đường ăn nói nên không thể lập tức đem thứ cảm giác đó ra biểu đạt cho bà hiểu. Ông chăm chú thả rau cải vào nồi. Bà thì nhanh tay nhanh mắt mò tép khô trong nồi nước lẩu đang sôi sùng sục cho ông. Cả thảy mới có một nhúm nhỏ tép khô. Cho vào nồi rồi chẳng còn nhìn thấy bóng dáng con nào nữa. Vậy mà bà với kỹ thuật siêu đẳng, hệt như đang mò kim đáy bể vậy, tay nắm chặt đũa tre nhăm nhăm gắp tới, lần nào lần nấy đều trúng đích. Mỗi khi bà với tay qua nồi lẩu để bỏ con tép chỉ bằng cái đầu sợi vào bát cho ông, ông lại đưa mắt nhìn sang bà qua làn hơi nước trắng xóa. Cùng lắm thì có thêm một câu: “Xem bà kìa!”.
Nhiều lúc ông cũng muốn tìm kiếm chút tinh hoa trong nồi lẩu để gắp cho bà cho dù đó chỉ là vài con tép khô ít ỏi. Có điều tay chân ông vụng về, lần nào cũng gắp hụt. Chỉ có một lần, đôi đũa của ông bất ngờ kẹp được một miếng mồi lớn. Nhấc lên khỏi mặt nước nhìn xem thì hóa ra là một quả hồi màu đỏ sậm. Bà bảo ông mau thả nó lại nồi. Cả nồi nước lã đun sôi chỉ có nó để lấy hương thơm đấy. Ông không tranh đua với bà vụ bắt tép trong nồi lẩu nữa, hởi lòng hởi dạ ngồi ăn tép khô bắp cải, đột nhiên ngẩng đầu lên thốt một câu: “Mình đấy!”.
Ông biết cả đời này ông không xa được bà, cũng giống như bà chưa bao giờ nghĩ sẽ rời xa ông vậy. Từ trước đến nay ông bà chỉ rời xa nhau có vài lần ít ỏi, bao gồm cả bốn lần bà nhập viện sinh con. Cũng phải kể đến lần ông bị đưa đến vùng rừng núi hẻo lánh lao động một năm trong cuộc đại cách mạng đó. Sau đó ông và một số đồng nghiệp trở về thành phố trước thời hạn và được biên vào một tổ nghiên cứu khoa học chủ chốt phục vụ cho công tác xây dựng tuyến đường sắt đầu tiên của Bắc Kinh. Tuy ông còn lâu mới được là nhân vật chính trong công cuộc đó, cũng không thực sự có gì nổi trội, nhưng tất cả những điều đó đều chẳng ngăn được cậu con trai út của ông bà mỗi lần đi tàu hỏa lại lớn tiếng khoe khoang với chúng bạn: “Biết ai thiết kế tuyến đường sắt này không? Bố tớ đấy!”.
Cô Điền đã về. Thịt cừu, rau cỏ nguyên liệu đều đầy đủ cả. cô chui vào bếp, cái gì cần rửa thì rửa, cái gì cần thái thì thái, thoáng một cái đã có khay to đĩa nhỏ để thành một khoảnh. Cô lần lượt bê những khay những đĩa đó ra cái bàn ăn hai cụ đang ngồi rồi xếp chúng vòng quanh cái nồi lầu giống như quần tinh chầu nguyệt vậy. Tiếp đó cô lại phải bê cái nồi lẩu đồng đỏ đó đi – bà cụ lau chùi khiến khắp nồi toàn dấu vết của kem đánh răng – cần phải dùng nước để rửa cho sạch. Có khác gì một người đi tắm đâu, không thể bước ra khỏi nhà tắm khi khắp người còn đầy bọt xà phòng chứ! Cô Điền để cái nồi dưới vòi nước trong bếp rồi xả nước để rửa. Cô phát hiện ra chiếc nồi chẳng sáng bóng như những lần trước bà cụ đã lau, thân nồi chỗ sáng chỗ xỉn còn phần chân thì gần như chẳng lau chùi gì đến, rìa mép còn nguyên những mảng xanh xám của gỉ đồng. Nghĩ đến căn bệnh về mắt của cụ bà, cô bất giác nhủ thầm: “Đúng là đã làm khó cho cụ rồi!”. Bên ngoài bà cụ hỏi với vào: “Nồi lau xong có sáng không?”, giống y đứa trẻ đang chờ đợi người lớn khen thưởng vậy. Cô Điền định bụng sẽ nói dối nên lớn tiếng đáp: “Sáng đến nỗi soi thấy cả bóng của con đây này! Cả cái bớt vàng sậm trên mặt con cũng nhìn thấy!”.
Ông bà nghe cô Điền nói vậy đều cười ha hả.
Cái nồi lẩu nặng trịch đổ đầy nước trắng, sau khi thêm hành, gừng, hồi và một ít tôm nõn lại được cô Điền bê trở lại bàn ăn, chỉ cần đợi nước lục ục sôi lên là bữa lẩu nhúng chính thức được bắt đầu. Ông bà háo hức nhìn cái nồi trên bàn và những chén đĩa bày xung quanh nó. Cho dù trong mắt hai người, chiếc nồi đó tuyệt đối không thể gọi là hào quang tỏa ra tứ phía nhưng sự hình dung của cô Điền khiến ông bà tin rằng chiếc nồi vẫn sáng bóng giống với trước đây vài năm, thậm chí vài chục năm. Cô Điền thì đang theo thói quen nghề nghiệp nghiêng đầu ngó ngó cái cửa lò ở chân nồi lẩu. Than củi phải đỏ rừng rực chứ? Vừa nhìn vào,  “Thôi chết rồi!”. cô thảng thốt kêu lên một tiếng.
Đúng là bận mải quá thành ra tai hại.
Cô quên béng việc mua than củi!
Cái sự quên này khiến ông bà hơi mất hứng, có điều hai người đều không hề định bàn lùi mà chuyển sang phương thức khác – dùng cái nồi lẩu điện mà cô cháu dâu mua tặng. Ông đã từng bảo: “Cái này mà cũng gọi là nồi lẩu sao?”. Cô Điền cũng không định động viên hai cụ dùng nồi lẩu điện. Cho dù là vì cái nồi đồng đỏ chỗ sáng chỗ tối mà cô đã bê ra bàn ăn, cô cũng phải đội tuyết đi một chuyến nữa để mua than. Cho dù là vì tâm tình của cụ ông và cụ bà. Cũng đáng!
“Đợi con nhé! Một lát là về tới thôi!”. Cô Điền nói như đang dỗ dành hai đứa trẻ vậy, sau đó như một cơn gió phóng ra ngoài cửa.
Ông bà nhẫn nại đợi cô Điền về cùng với than củi. Bà đi vào bếp pha dầu mè. Ông đi theo sau, lẩm bẩm vẫn câu đó: “Mình đấy!”.
Cả đời ông chưa nói với bà một câu nói du dương nào. Hình như cũng chưa từng viết qua thư tình. Tuy nhiên bà vẫn còn nhớ một chuyện xảy ra khi cô con gái lớn vừa tròn một tuổi rưỡi. Chủ nhật đó ông bà dẫn con ra công ty bách hóa để mua vải hoa. Lúc đang xếp hàng trả tiền thì cô bé đòi đi tiểu. Ông bế con đi vào nhà vệ sinh còn bà tiếp tục đứng giữ chỗ chờ đến lượt. Một lúc sau bà đột nhiên cảm thấy có người ở đằng sau đang khẽ động lên tóc mình. Bà se sẽ quay đầu lại và nhìn thấy ông đang bế con gái đứng ngay sau lưng, tay cầm bàn tay nhỏ xíu của con vuốt lên tóc vợ. Kể từ đó, mỗi lần nhìn thấy hoặc nghe thấy từ du dương là bà lại nhớ đến lần đứng xếp hàng ở công ty bách hóa ông đã mượn tay con gái để vuốt tóc mình. Đó chính là thứ ngôn từ du dương ông giấu kín để dành cho bà, cũng chính là cách ông công khai thể hiện tình yêu đối với bà. Giờ đây khi mà hai người đều đã già, toàn thân đâu đâu cũng thấy bệnh. Thính giác, vị giác, khứu giác và thị giác đều như nhau, đang dần từng bước lão hóa hết cả, nhưng mỗi lần nhớ lại ngày chủ nhật của hơn nửa thế kỷ trước đó, mái tóc đã lơ thơ bạc trắng và khô xác của bà lại vẫn có thể cảm nhận được sự tung bay thoáng qua, làn da nhăn nheo sau gáy của bà vẫn có thể cảm nhận được luồng tê dại nóng bỏng.
Khoảng hơn một tiếng đồng hồ sau, cô Điền lại trở về, tay xách cái túi đựng đồ của Gia Lạc Phú miệng liến thoắng: “Than đến rồi! Than đến rồi! Của hiếm đấy! Mỗi Gia Lạc Phú có!”.
Nước trắng trong nồi lẩu được sự cổ động của than củi, chẳng bao lâu sau bắt đầu lên tiếng lục ục. Cô Điền mời cụ ông cụ bà nhập tiệc, lại mau mắn giúp hai người nhấc cái vung nồi lẩu nóng rẫy tay đặt sang một bên.
Ông bà ngồi xuống đối diện với nhau rồi không hẹn mà cùng đưa mắt nhìn qua chiếc đồng hồ treo trên tường. Lờ mà lờ mờ! Hình như là 11 rưỡi rồi? Nếu không thì là 12 rưỡi? Hai người trong lòng ái ngại đồng thanh nói: “Thật đã khiến cô phải vất vả rồi!”.
Không có tiếng cô Điền trả lời. Cô sớm đã lén chuồn ra ngoài rồi. Cô biết rõ rằng trong lúc này, đừng nói là bên cạnh hai cụ có thêm một người, cho dù chỉ thêm một cái bát không thôi cũng đủ khiến hai người vướng mắt.
 
 
1
Ông bà yên lặng ngồi ăn lẩu. Cũng giống như trước đây, vẫn là bà tiếp cho ông nhiều hơn. Hai người không còn ăn nhiều được như ngày xưa. Cảm nhận của vị giác đối với miếng thịt nhúng tươi ngon và những chua, chát, mặn, ngọt của gia vị cũng đã giảm đi rất nhiều. Tuy nhiên nồi lẩu bốc hơi nghi ngút trên bàn kia vẫn khiến ông bà vô cùng hứng khởi. Hai người cùng gắp bỏ vào nồi thịt cừu và đồ ăn trong những khay đĩa nhìn rối cả mắt bốn xung quanh. Bà vớt mấy miếng thịt cừu cho vào bát ông. Ông thì gắp một miếng đậu đông bỏ sang bát bà. Bà lại vớt cho ông một miếng tảo biển. Ông cứ như đang thi đua với bà vậy, cũng chăm chú đi mò tảo biển. Mò một lát, ông đột nhiên cảm thấy đầu đũa đang trầm mình trong nồi nước lẩu mắc phải một thứ gì đó rất đầm bèn vội cắp chặt lấy nó rồi nhấc lên. Một miếng tảo biển! Dài như một quả mướp nhỏ! Ông giơ cao đôi đũa bảo: “Bà ăn đi!”.
Bà nhường nhịn: “Ông ăn!”.
Ông đưa đôi đũa về phía bát bà: ‘Bà ăn đi!”.
Bà giơ tay ngăn lại nói: “Ông ăn! Ông thích ăn mà!”.
Ông đắc ý bỏ miếng tảo biển đang kẹp chặt trên đầu đũa vào bát của bà: “Hôm nay tôi cứ muốn gắp cho bà ăn!”.
Bà cảm thấy trong làn hơi nước nóng hổi đang bao phủ, khóe mắt hơi đỏ của ông ngập tràn vẻ mừng vui hớn hở. Bà cười khẽ rồi cúi xuống cắn một miếng nhỏ tảo biển trong bát. Cắn không được! Bà lại thử một lần nữa. Vẫn không thể cắn được! Bà bèn gắp miếng tảo biển giơ lên sát mặt nhìn kĩ lại.
Nhìn rõ rồi!
Bà đang cắn một mảnh giẻ lau!
Hai người đã gắp miếng vải mà bà vừa lau bỏ vào nồi nước lẩu.
Ông hỏi bà ăn có ngon không?
Bà vội gắp một lá bắp cải to trong khay đậy lên miếng tảo biển: “Ngon! Ngon lắm!”.
Bà mừng vì chính mình chứ không phải ông vớ phải miếng tảo biển đó. Bà còn muốn nói với ông rằng, trong đời bà, đó là thứ hương vị biển tươi ngon nhất mà bà đã từng ăn. Chỉ có điều, một luồng nhiệt nóng bỏng từ tận sâu trong lòng bỗng trào lên khiến bà nghẹn ngào không nói nên lời.
Bà không nói thêm được câu nào nữa.
Ông lại bỏ vào nồi một nhúm mì gạo. Bà không ngăn ông. Lúc húp nước mì, chẳng ai phát giác ra mùi thuốc đánh răng hết.
Bà ôm cái bát bằng cả hai tay. Bà muốn bảo với ông rằng, hôm nào trời đẹp phải đến bệnh viện một chuyến. Bà muốn biết phòng điều trị trong đó có cho nam nữ nằm chung không? Bà mong muốn nhất là được nằm cùng phòng bệnh với ông.
Tuyết vẫn còn rơi. Ngoài cửa sổ trắng xóa một màu. Cây lựu trước sân chắc không còn giống như đang khoác lên mình chiếc áo len trắng nữa. Bà e nó đã mặc áo bông rồi!
Thiên Thai dịch
 ---------------------
1. DongLaiShun là quán lẩu thịt cừu nổi tiếng có lịch sử  trên 100 năm của Bắc Kinh. Lẩu của họ chỉ dùng thịt cừu của Nội Mông, nồi lẩu bằng đồng và được đun bằng than củi.
 
Nguồn: Văn nghệ quân đội
. . . . .
Loading the player...