Kỷ niệm 101 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21/6/1925 – 21/6/2026), Văn nghệ Hà Tĩnh trân trọng giới thiệu bài viết “Chữ nghề và chữ nghiệp của nhà báo!” của nhà báo Nguyễn Ngọc Vượng
Cố nhà báo Lê Tràng Kiều nguyên chủ bút tờ Hà Nội báo, nhóm chủ bút tờ Tiểu thuyết thứ Năm và chủ bút các tờ báo: Lá Lúa, dân quyền, Ngày nay, Việt báo, Lẽ sống, Phụ nữ... từng ca ngợi các nhà báo: Tam lang Vũ đình chí; Thiên hư Vũ Trọng Phụng và Tiêu liêu Vũ Bằng là "Ba thằng họ Vũ" với cách gọi thân thiết như anh em trong nhà từ thời còn ở Hà Nội. Tuy nhiên sau này vì lí do nào đó ông đã sửa lại cách xưng hô "Ba chàng họ Vũ". Cũng có ai đó thì từng gọi họ là "Tam vương họ Vũ", nhưng đến nay chưa thấy có tư liệu nào viện dẫn cụ thể.
Nhắc đến "Ba chàng họ Vũ" làm chúng ta liên tưởng đến các nhân vật trong tiểu thuyết "Ba chàng lính ngự lâm" của nhà văn Alexandre Dumas. Tuy nhiên với một thứ vũ khí còn lợi hại hơn cả gươm giáo, mà tinh thần kẻ sĩ không khác nào nhiệt huyết của hiệp sĩ. Ấy là những cây bút xếp vào bậc thượng thừa như: Vũ đình chí; Vũ Trọng Phụng và Vũ Bằng thì sức công phá của nó mạnh cỡ nào mỗi khi "Ba chàng họ Vũ" vung bút khai "khai hỏa" và tung hoành trên diễn đàn báo chí!
Lịch sử báo chí và văn học đương đại Việt Nam nhìn xuyên suốt từ nửa đầu thế kỉ XX đến nay đã gọi tên ba cây đại thụ họ Vũ bằng sự khâm phục. Những thiên phóng sự của Vũ Trọng Phụng như: Kỹ nghệ lấy Tây, Cơm thầy cơm cô, Dân biểu và dân biểu...; của Vũ Đình Chí như: Tôi kéo xe, Đêm sông Hương, Lọng cụt cán...; các phóng sự, tùy bút, hồi ký của Vũ Bằng như: Hà Nội trong cơn lốc, lo thầy chạy thuốc, Phù dung ơi vĩnh Biệt, Bốn mươi năm nói láo, Thương nhớ mười hai... vẫn mãi là những tác phẩm đứng trên đỉnh cao.
Sinh thời họ còn là những biểu tượng về cốt cách, lòng tự trọng và trách nhiệm nghề nghiệp trước xã hội, đặc biệt đối với tầng lớp yếu thế. Họ luôn lấy chữ Nhân làm trọng, lấy chữ Nghĩa làm đích, luôn giữ vững tiết khí ngay thẳng, không ngại hiểm nguy, không bao giờ bị khuất phục bởi cám dỗ vật chất và cường quyền...
Vậy nhưng ngoại trừ Vũ Đình Chí có phần kín tiếng hơn thì cuộc đời của Vũ Trọng Phụng và Vũ Bằng lại đầy bầm dập, thậm chí là đầy bi kịch. Gắn với những năm tháng làm báo của mình cho đến lúc qua đời ở tuổi 27, Vũ Trọng Phụng chỉ biết sống trong khắc khổ, thiếu thốn và bệnh tật. Ông thường trắng đêm vắt kiệt sức lực viết báo để lấy đồng nhuận bút còm, nuôi mẹ và bà cô ruột không chồng. Trước lúc nhắm mắt, nằm trên giường bệnh ông trăng trối với Vũ Bằng rằng: "Giá như mỗi ngày tôi có được một miếng bít tết thì không phải chết thảm thế này".

Nhà văn, nhà báo Vũ Bằng
Còn Vũ Bằng thì phải chuốc lấy oan khuất tận lúc qua đời (7-4-1984 tại Tp HCM) mà vẫn nhắm mắt không đành, bởi mang lấy tiếng là kẻ phản bội tổ quốc. Mãi sau này sự việc được sáng tỏ, người ta mới thấy Vũ Bằng là một chiến sĩ, một nhà tình báo vĩ đại với bí danh X10. Ông phải chấp nhận "án giữa trời" ôm lấy nỗi đau đớn nhất khi bỏ lại vợ con ở chiến khu trước sự dèm pha của đồng đội, người thân, bạn bè và quê hương để thực hiện cái sứ mệnh lớn lao của dân tộc, mà sinh thời chưa được đền đáp. Mãi đến năm 2010, những cống hiến thầm lặng của ông mới được minh oan, đặc biệt ông được trao giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.
Trong hàng loạt tác phẩm của ông có hẳn một tập hồi ký nổi tiếng về nghề báo. Đó là tập "Bốn mươi năm nói láo" khắc họa lại những hồi ức, kỉ niệm và kinh nghiệm của ông trong suốt bốn mươi năm làm báo. Ông không xem nghề báo là để dương oai mà là một sứ mệnh của người nói láo: "Để lòng lên bàn tay, tôi chỉ thấy tôi là một anh nói láo trường kỳ, nói láo vô tội vạ, nói láo ra tiền, để kết cục đến bây giờ mang lấy cái nghiệp vào thân, không sao gỡ được, đành là cứ phải tiếp tục nói láo cho đến chết - vì tôi biết chắc sẽ không thể nào thoát được hai bàn tay sắt bọc nhung của bà chúa báo”.
Thực tế có những giai đoạn Vũ Bằng làm báo không vì tiền mà chỉ theo sở thích, nhờ vào thời điểm ấy ông sống trong vỏ bọc nhung lụa của gia đình. Mẹ ông là chủ một cửa hàng giấy lớn ở Hà Nội. Nhiều lần ông còn về nhà vay giấy của mẹ cho tòa soạn in báo bán, nhưng bán được bao nhiêu thì tiêu phá bấy nhiêu, không trả nợ cho mẹ. Ông cũng là tay chơi khét tiếng ở đất Hà Thành với bao thói hư như nghiện thuốc phiện, cờ bạc và hát cô đầu...
Mãi đến sau này khi gia đình gặp khó khăn, ông mới ngộ rằng làm báo không chỉ để chơi mà cũng là nghề để kiếm sống. Tuy nhiên, ông vẫn nói: "Người mẹ nào sanh con ra lại chẳng muốn cho con sau này ăn nên làm ra, có vai vế, nhưng Mẹ ơi, con đành chịu tội bất hiếu với Mẹ: Nếu trở lại làm người, con cứ lại xin làm báo!"
Theo ông, nghề báo không thể để cho ngòi bút của mình tủi hổ. Cố nhiên muốn được như thế báo chí phải kinh qua những nghịch cảnh thăng trầm mà người làm báo cũng như các nhà cách mạng, chính trị, thường không tránh được. Phải đối mặt với sự thật bị vu cáo, bị tù đày hay bị thiếu thốn về vật chất... Làm báo không phải để chửi bậy, không phải đổ lấy le, mà phải một cái gì lớn lao, nói lên được phẩm chất văn minh, hoặc ưu biệt, hoặc thoái hóa của một chế độ. Hơn thế nữa, mổ xẻ tình tiết tâm tư của con người, đi sâu vào từng khía cạnh trớ trêu, uẩn khúc và giả tạo của một chế độ để chống lại chế độ ấy (nếu cần), hầu cho xã hội vươn lên, cho giống nòi tồn tại và tiến bộ...
Nhận thấy sứ mệnh lớn lao ấy, ông tự thấy không phải cứ nằm dài hút thuốc phiện, cờ bạc và hát cô đầu... rồi cứ đi vay giấy của mẹ hay ngửa tay lấy tiền gia đình đi ném vào những cuộc ăn chơi trác táng được nữa. Và rồi ông quyết định cai thuốc phiện, bỏ vào Sài Gòn lần thứ nhất với hy vọng xuống tàu thủy đi Pháp và các nước châu Âu làm bất cứ việc gì, miễn rằng không phải nghề báo.
Càng thấm thía sự vinh nhục của nghề báo, không kiếm được tiền thì sống vào đâu. Ông thẳng thắn cho mình do không biết xoay sở làm ăn ra sao. Ngược lại coi những người tháo vát bạ cái gì cũng làm được, thậm chí vứt vào bụi tre cũng không chết. Nếu chẳng làm được nghề thợ điện thì đi chữa khóa, không làm bộ trưởng, thứ trưởng, giám đốc thì đi đánh máy, bán dầu cù là trên xe lửa, hay cùng lắm dắt một con khỉ đi mãi võ sơn lâm bán thuốc cao. Riêng ông không bỏ được nghề báo chẳng qua là vì ông quỷnh không biết làm nghề khác, thành ra cứ quẩn đi quẩn lại làm báo hoài.
Chờ đợi 4 tháng ở Sài Gòn, tiền mất tật mang, cuối cùng ông lại quay về làm nghề báo. Khác với thời ở Hà Nội trong 3 năm làm báo tại Sài Gòn, thu nhập của ông có phần dư giả. Đặc biệt nghề báo ở miền Nam rất chuyên nghiệp, nhờ đó ông cai hẳn được thuốc phiện nên không còn ốm đau gầy yếu và tinh thần thì mạnh mẽ hẳn lên.
Đến lúc này thì ông càng xem trọng nghề báo, nhưng không đơn thuần chỉ vì kiếm tiền, mà đó chính là nghiệp với cách ông nói: "cáo chết ba năm quay đầu về núi" đã ăn vào máu thịt mình như con ma thuốc phiện. Ma thuốc phiện dù nghiện ngập nặng nhưng vẫn cai được bằng nghị lực và sự quyết tâm, còn nghề báo thì không thể nào bỏ được bởi chữ nghiệp. Và ông tự vấn cho mình như thân phận nàng Kiều rằng đã mang lấy nghiệp vào thân, cho nên "thanh lâu hai lượt/ thanh y hai lần".
Nghề báo và nghiệp báo trong suy nghĩ của Vũ Bằng không có ranh giới. Nếu có chăng đó chỉ là ranh giới rất mơ hồ. Khi khoảng mơ hồ đó biến mất thì báo chí chỉ là phương tiện đưa tin đơn thuần mà người làm báo là công cụ phục vụ tuyên truyền cho một chính thể nào đó để hưởng thụ sức lao động bằng đồng lương của mình. Nghiệp báo theo đúng nghĩa của người làm báo là cái "nghiệp thiện" được thượng đế trao sẵn cho anh để chia sẻ vui, buồn và chấp nhận nó như một sứ mệnh thiêng liêng, sẵn sàng hy sinh tất cả để phụng sự cái đẹp.
Ngược lại, nghiệp báo còn được hiểu theo nghĩa bóng đối với những nhà báo lợi dụng nghề của mình bẻ cong ngòi bút, kiếm ăn hèn hạ là "nghiệp ác" hay nghiệp chướng, theo quan niệm của Phật giáo đó là quả báo mà anh phải chuốc lấy khi tự mình gieo ra. Điều đó phản ánh rất rõ trong mối tương quan xã hội ngày nay, có không ít nhà báo biến nghề của mình thành "chợ đêm" để vòi vĩnh, dọa dẫm người khác mà vẫn trơ trơ giọng đạo đức ngoài đời. Không phải đợi đến kiếp sau, có khi chưa dứt lời thì đã bước vào vòng lao lý, hoặc chuốc lấy những tai họa nhãn tiền không lường hết.
Thế hệ trẻ ngày nay xem nghề báo như những công chức ăn lương, được học hành đào tạo cơ bản và biên chế vào một cơ quan báo chí nào đó để thực hiện công việc cung cấp thông tin; giám sát và phản biện xã hội; tuyên truyền chủ trương đường lối, chính sách, pháp luật, định hướng dư luận và củng cố đồng thuận trong cộng đồng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, nâng cao dân trí và làm phong phú đời sống tinh thần của công chúng; cung cấp các nội dung thư giãn đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa lành mạnh của độc giả; thúc đẩy phát triển kinh tế thông qua cung cấp thông tin thị trường, quảng bá thương hiệu và hỗ trợ kết nối doanh nghiệp và người tiêu dùng... bởi vậy nghề báo ngày càng được trân trọng. Đó cũng là một phần lý do mà người làm báo chân chính luôn tự hào, không ngừng phấn đấu trau dồi đạo đức nghề nghiệp và chuyên môn...
Ngược lại khác với nghề báo thì nghề viết văn, làm thơ hầu hết tự phát bằng niềm đam mê đúng nghĩa với chữ "nghiệp". Dĩ nhiên trước hết họ là những người có năng khiếu bẩm sinh và nhạy cảm về cảm xúc tâm hồn!... Ngoài những nhà văn, nhà thơ được biên chế tại các cơ quan văn nghệ làm công ăn lương, tuy rằng đồng lương ấy nhiều lúc chưa xứng với lao động của họ; hoặc giả có người sống bằng nghề khác như giáo viên, bộ đội... còn lại hầu hết các nhà thơ, nhà văn phải lăn lộn giữa cơ chế thị trường mà không hề biết run rẩy trước sự "đày ải" của chữ nghiệp.
Tuy vậy, cơ chế thị trường cũng rất sòng phẳng, bởi có không ít những tên tuổi lớn gắn với các tác phẩm được định hình trên diễn đàn văn học nước nhà lại "sống khỏe" nhờ nghiệp văn chương bằng tiền nhuận bút, tiền bán sách, tiền bản quyền tác phẩm.... Còn đâu đại đa số tác giả thỉnh thoảng có tác phẩm nào đó được giới thiệu trên các báo, tạp chí... mới nhận được vài đồng nhuận bút; muốn in sách thì phải tự bỏ tiền ra, mà in xong cũng chỉ cho, tặng và tự sướng chứ không ai mua.
Biết rằng "cơm áo không đùa với khách thơ" nhưng cũng không hiếm nhà văn nhà thơ hiện nay vẫn lơ mơ trước thời cuộc, dám đánh đổi số phận đi đến tận cùng với niềm đam mê, mặc cho đói nghèo, ốm đau, bệnh tật mà vẫn không bận lòng!
Tôi cũng từng làm nghề báo và sống bằng nghề báo với đồng lương và tiền nhuận bút. Trong đời làm báo của mình không ít lần phải đối mặt với hiểm nguy, nhưng cũng rất vinh dự khi thu nhận được những thành quả xứng đáng mà mình bước qua từ chính trong những mối hiểm nguy ấy. Đến nay thì tôi đã nghỉ hưu không tham gia vào hoạt động báo chí chuyên nghiệp, có chăng cũng dừng lại ở một phần đam mê nào đó, nhưng chưa đủ lớn để chuốc lấy chữ nghiệp mà lao tâm khổ tứ vì nó.
Nhìn rộng ra vẫn có một số đồng nghiệp khi đã nhận chế độ nghỉ hưu nhưng vẫn đầu quân cho một số tờ báo, tạp chí... Không phủ nhận sự đam mê của họ, nhưng trên thực tế họ tiếp tục làm nghề báo khi tuổi đã cao không phải chọn sự mạo hiểm, mà vì thu nhập. Thậm chí có người còn lợi dụng uy tín có thâm niên trong nghề để tạo dựng những mối quan hệ với các bậc lãnh đạo địa phương, với các doanh nghiệp nhằm mưu cầu cho tư lợi cá nhân. Chưa thấy ai từng nhiều lúc "ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng" bởi "nghiệp thiện" như "Ba chàng họ Vũ". Nếu ai có sự hy sinh nào đó thì sự hy sinh ấy cũng có mục đích phùng "nghiệp ác" vì tham sân si.
Trở lại với nhà báo, nhà văn Vũ Bằng. Ông có một giai đoạn lịch sử rất đặc biệt tại Hà Tĩnh vào thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Giai đoạn này gắn liền với bước ngoặt cuộc đời ông, từ một nhà báo tiểu tư sản thành thị trở thành một chiến sĩ tình báo chiến lược của mạng lưới tình báo cách mạng Việt Nam. Sau ngày toàn quốc kháng chiến (1946), cũng như nhiều trí thức, văn nghệ sĩ Hà Nội lúc bấy giờ, Vũ Bằng cùng gia đình (trong đó có người vợ đầu của ông là bà Nguyễn Thị Quỳ) tản cư đến vùng tự do Liên khu IV, cụ thể là huyện Hương Sơn, Hương Khê và Đức Thọ cũ của Hà Tĩnh. Đây là hậu phương an toàn, nơi tập trung nhiều cơ quan kháng chiến và giới văn nghệ sĩ thời bấy giờ.
Tại Hà Tĩnh, Vũ Bằng đã hòa mình vào đời sống kháng chiến và có những đóng góp quan trọng cho nền báo chí kháng chiến liên khu: Ông tham gia viết bài, biên tập cho các tờ báo kháng chiến tại địa phương và Liên khu IV. Dù sống trong điều kiện thiếu thốn của vùng nông thôn miền Trung, ông vẫn giữ được ngòi bút sắc sảo. Bên cạnh đó những trải nghiệm về thiên nhiên, con người Hà Tĩnh kiên cường, lam lũ nhưng đậm nghĩa tình đã để lại những dấu ấn nhất định trong tâm hồn nhạy cảm của ông. Rất có thể truyện “Đám cưới hai u hồn ở chùa Dâu” được ông phát triển dựa trên hình ảnh về mối tình chung thủy của đôi nam nữ thanh niên nào đó ở Hương Sơn mà ông từng chứng kiến, nhưng vì chiến tranh tao loạn họ phải chia ly và mỗi người chết ở một phương trời cách biệt. Cuối cùng hai linh hồn lưu lạc oan khuất đáng thương ấy cũng tìm được nhau, và họ được sư thầy tổ chức đám cưới ở cõi âm?
Sự kiện quan trọng nhất trong thời kỳ ở Hà Tĩnh của ông là gặp gỡ và được các cán bộ tình báo (thuộc Tổng cục Tình báo của ta sau này) tiếp cận, thử thách và giác ngộ. Nhận thấy uy tín lớn của ông trong giới báo chí và khả năng quan hệ rộng với giới thượng lưu, tổ chức đã quyết định giao cho ông một nhiệm vụ đặc biệt nguy hiểm là phải quay lại Hà Nội vào năm 1948 và sau đó vào Sài Gòn, giả vờ từ bỏ kháng chiến, đóng vai một nhà báo "di cư", "quay lưng với cách mạng" để thâm nhập vào hàng ngũ địch, khai thác thông tin chiến lược.
Dù ở đâu hay làm việc gì thì như câu thành ngữ cha ông ta từng truyền lại rằng, "sinh nghề tử nghiệp", mà Vũ Bằng chính là người sinh ra để làm nghề báo và chết vì nghiệp báo.
Thành Sen 31/5/2026
Nguyễn Ngọc Vượng