01-07-2026 - 08:53

Trần Lê Xuân: QUÊ HƯƠNG TRONG MIỀN NHỚ

Trong sự nghiệp sáng tác của mình, nhà thơ Trần Lê Xuân luôn dành một không gian đặc biệt cho quê hương Hà Tĩnh - vùng đất đã nuôi dưỡng tâm hồn, nhân cách và nguồn cảm hứng thi ca của ông. Dù nhiều năm công tác và sinh sống ở Nghệ An, trong sâu thẳm trái tim người thi sĩ ấy vẫn luôn hiện hữu hình bóng dòng La, núi Hồng, những bến nước, mái nhà, người mẹ, người cha lam lũ và biết bao con người bình dị trên mảnh đất quê hương. Tập thơ Hà Tĩnh mình ơi (Nxb Văn học, 2014, in chung với Nguyễn Thị Mỹ Dung), là tiếng lòng tha thiết của Trần Lê Xuân với quê hương, xứ sở.

Nhà thơ Trần Lê Xuân, sinh năm 1932, quê xã Trung Lễ, huyện Đức Thọ (nay là xã Đức Thịnh, tỉnh Hà Tĩnh). Ông nguyên là giảng viên giảng dạy môn Văn học dân gian tại Khoa Ngữ Văn Trường Đại học Sư phạm Vinh. Trần Lê Xuân đã xuất bản nhiều tác phẩm như: Mặt cánh đồng (thơ, in chung với Cảnh Nguyên, 1973), Chiếc lá (thơ, 1996), Sắc mặt thời gian (thơ, 1986), Tiếng đời (thơ, 2001), Ta có Bác (thơ, 2004). Trở lại cội nguồn (tiểu luận, 1992); Hà Tĩnh mình ơi (2014)…

Sông La có tự thuở nào

Trong lời ngỏ tập Hà Tĩnh mình ơi, tác giả chia sẻ: “Hà Tĩnh mình ơi là tiếng gọi thân thương, tha thiết; là lời nguyện ước muốn trải lòng mình cho sự gắn bó, cho sự hy sinh đóng góp, làm nên một Hà Tĩnh giàu mạnh, đi lên cùng với cả đất nước Việt Nam, bình yên, cường thịnh”.

Trần Lê Xuân mở đầu tập thơ với bộn bề những địa danh, đó là những địa danh đong đầy kỷ niệm, đong đầy thương nhớ. Chắc phải yêu lắm, thân thương lắm, Trần Lê Xuân mới có những dòng thơ mượt mà đến vậy, mượt mà như nước dòng La:

“Sông La có tự thuở nào

Mà xanh sóng lượn mà dào dạt sông!

Ngàn Sâu sâu đến tận cùng

Đò em chở ánh trăng lồng thâu đêm

Câu đò đưa thả mượt mềm

Đến Tam Soa trắng một thềm nước sa

Ai về bến Thượng quê ta

Gặp cô rao hến ruột ngà nước trong

Tơ vàng ai giăng bên sông

Phải em cô gái Châu Phong tóc thề?”

(Sông La)

Không chỉ một lần, trong tập thơ Trần Lê Xuân nhiều lần nhắc đến Sông La. Có thể nói, Sông La là một ám ảnh nghệ thuật, một tín hiệu thẩm mĩ quan trọng trong tâm thức nhà thơ. Nhớ về Hà Tĩnh, ông nhớ đến Sông La; nhắc đến Sông La là chạm đến những miền ký ức thân thương đã lắng sâu trong tiềm thức. Sông La trở thành nguồn cảm hứng bất tận, nơi neo giữ bao kỷ niệm đời người. Đôi khi, bất chợt nghe câu hát về Sông La, ký ức về một miền quê bỗng nhiên bừng thức: “Nghe em hát Sông La/ Anh mường tượng miền quê tỉnh thức” (Nghe em hát Sông La).

Trên bến sông quê, bóng hình người con gái dịu dàng, duyên dáng hiện lên, khiến cảm xúc thi nhân dạt dào như những con sóng vỗ bờ:

“Thuở yêu nhau ta có dòng La

Để cho anh gặp em ngoài bãi bến

 Em giặt lụa mặt hồng lên duyên dáng

Chuyện tâm tình có bao sợi tơ vương”

(Thuở yêu nhau).

Xa quê, giữa những đêm dài thương nhớ, hình ảnh dòng sông ấy lại hiện về trong tâm tưởng:

“Những đêm xa nằm nhớ thương quê

Thấy sáng cả trời xanh gió lộng

Bãi mía nương ngô rập rờn lượn sóng

 La Giang ơi! Nước vẫn cuốn xanh dòng”

(Đẹp cả hai quê).  

Qua hình tượng Sông La, có thể thấy, Trần Lê Xuân đã kiến tạo một không gian nghệ thuật riêng, đó là không gian của hoài niệm, của ký ức, của riêng ông và cũng là của riêng Hà Tĩnh. Từ đó, tình yêu quê hương được biểu hiện một cách tự nhiên, sâu lắng xuyên suốt mạch nguồn tác phẩm.

Con khóc câu “trùng triềng” mẹ hát

Nhớ về quê là nhớ về mẹ, người mẹ hiền tảo tần mưa nắng. Nhà thơ liên tưởng hình bóng mẹ với thân cau hao gầy mà luôn vươn thẳng, một đời chống chọi với bão giông mà tỏa hương ngào ngạt. Cau như mẹ, một đời chở che những đứa con - buồng cau. Hình tượng mẹ -  thân cau, hiện lên cao vời mà sao đơn độc:

“Nang cau ấp ủ buồng cau

Ngày đêm thao thức dãi dầu nắng mưa

Thoảng thơm vương vấn gọi mùa

Làn hương kết hạt đã vừa nắng trong

Gieo trong gió, gieo trong trăng

Gió trăng ru mãi tháng năm cõi đời

Lớn khôn con biết làm người

Hương cau với dáng cao vời thẳng ngay

Sá gì nắng táp bão lay

Lòng son: quả ngọt trầu cay đãi đằng”

(Hình tượng mẹ)

Để rồi khi mẹ đi xa, lòng thi nhân quặn thắt. Quặn thắt bởi xót xa cho mẹ một đời như con đò “trùng triềng”:

“Ba đời chồng câu hát tái tê

Ra Bắc vào Nam trập trùng gió xiết

Mẹ thương thân mà nương câu hát

Con lớn lên bằng câu hát mẹ ru đời

Mẹ ôm duyên mấy bận, bạc tóc rồi

Đêm tiễn mẹ đi, con khóc câu “trùng triềng” mẹ hát”

(Câu hát – vầng trăng)

Trên đất quê, còn đó những người mẹ quê, những người mẹ bao năm mỏi mòn chờ đợi bước chân con - những chàng trai xứ Nghệ ra đi trong bom lửa chiến tranh. Mẹ không của riêng ai, mẹ là người mẹ chung của những đứa con ra đi vì nước. Trần Lê Xuân đã nhập thân vào những đứa con của mẹ mà đau nỗi đau của mẹ:

“Con chẳng thể về nửa đêm gọi mẹ

(Mẹ ngóng chờ tiếng gọi mấy mươi năm)

Con ôm mái tóc sương ấm nồng lệ ứa

Mẹ sờ trán con khói đạn phong trần”

(Gửi Mẹ)

Ông thương những người mẹ mỗi ngày vẫn hao gầy chờ đợi trong mỏi mòn hy vọng: 

“Đồng đội gọi tên con qua khói hương bay

Mẹ gọi tên con cạn dòng nước mắt”

(Tên con mãi gọi)

Cái hay của Trần Lê Xuân là viết về mẹ, ông không dừng lại ở tình cảm riêng tư của một người con mà ông nâng hình tượng người mẹ quê lên tầm biểu tượng. Trong thơ Trần Lê Xuân, mẹ là hiện thân của sự hy sinh, lòng bao dung và sức chịu đựng. Những câu thơ thấm đẫm ân tình ấy đã làm sáng lên vẻ đẹp của người phụ nữ xứ Nghệ nói riêng, người phụ nữ Việt Nam nói chung.

Tình cha đó, sách đời ở đó

Quê hương, trong tâm thức Trần Lê Xuân có dáng mẹ, có bóng cha. Nhớ về cha trong những năm đói kém trước cách mạng, Trần Lê Xuân đang rơi nước mắt. Hình ảnh cha hiện lên chân thực một cách nghiệt ngã, cha “lủi thủi” đi về trong khổ hạnh mưu sinh:

“Đường làng ta sần sùi sỏi đá

Lầm lũi cha đi, tìm tới bạn nghèo

Guốc mòn vẹt và người đói lả

Rổ khoai sùng nhặt bóng gieo neo.

Nơi đình làng cấm lê guốc mộc

Áo phong phanh không được dự tế thần

Cha lủi thủi đi về thắp cây hương niệm Phật

Đôi guốc nằm lặng lẽ góc sân.

Cha ra đi để để lại cho con một đôi guốc mộc, âm thanh từ đôi guốc, tiếng bước chân cha vẫn còn văng vẳng trong tâm trí ông. Với Trần Lê Xuân, đôi guốc của cha còn là “sách đời” bởi bao nhân tình thế thái nó hiển hiện qua từng bước chân cha, bước chân “lầm lũi” vì nghèo, bước chân “lủi thủi” vì rách không được dự tế thần:

“Giờ cha đi chẳng dặn gì nữa cả

Đôi guốc mộc này để lại cho con

Tình cha đó, sách đời ở đó

Tiếng guốc đằm lên đất mãi âm vang…”

(Đôi guốc mộc của cha)

Rồi ông thành kính tưởng nhớ cha bằng những sản vật bình dị, những sản vật được chính tay ông chăm chút bởi đó là thành quả “đời cha nối lại đời con”:

“Con đặt lên bàn thờ cha ngày tết đến

Nải chuối, quả cam, trái ổi quê nhà

Có nắng đốt mưa chan ngày đêm chăm bón

Có mây trời gió thoảng kết hương hoa”

(Quả mùa xuân).

Hình ảnh người cha trong thơ Trần Lê Xuân được khắc họa từ những nhọc nhằn, lam lũ. Cha vì con mà đã “lầm lũi” đi qua bao, cơ cực, thiếu thốn, tủi hờn đã gợi lên trong lòng người đọc niềm xúc động, xót xa.

Những người con Hà Tĩnh

Nhà thơ đau đớn trước cảnh quê hương ngập trong mênh mông nước lũ “Con nhỏ bỏ vào chum khi nước dữ/ Nước xoáy đi rồi, dao xoáy vào tim” (Gửi về quê trong trận lũ). Dẫu thương quê, nhà thơ cũng đành bất lực ngửa mặt nhìn trăng trong ngậm ngùi:

“Ngóng về quê ngước lên vầng trăng

Trăng như con mắt đầm đìa nước bạc

Người chới với mà trăng không vớt được

Xa xót lòng ta khôn nguôi”

(Gửi về quê trong trận lũ).

Trong tập thơ Hà Tĩnh mình ơi, Trần Lê Xuân có nhiều bài thơ viết về Nguyễn Du như: Thơ ấy Nguyễn Du, Cô gái ở nhà lưu niệm Nguyễn Du, Bài giảng “Mùa xuân”, Đến với thi nhân… Có thể thấy, Trần Lê Xuân rất đồng cảm, tôn kính và thấu hiểu nỗi lòng Nguyễn Du, Đại thi hào Dân tộc, người luôn đau đáu phận người:

“Một câu Kiều vang động đến sâu xa

Mấy ai kể cuộc đời nhà thơ lận đận

Chỉ đọc tấm lòng trên mỗi trang thơ

Nỗi đau nhân dân là nỗi đau “đứt ruột””.

(Thơ ấy, Nguyễn Du)

Tự hào quê hương, Trần Lê Xuân tự hào với những người con ưu tú, những người đã anh dũng hy sinh, cống hiến cả tuổi xuân cho non sông đất nước. Đó là anh hùng Phan Đình Giót, người không hề đắn đo khi lấy thân mình lấp lỗ châu mai:

“Bao đồng chí hy sinh, không chần chữ được nữa

Lỗ châu mai như miệng cọp kinh hoàng

Phan Đình Giót thoáng trong đầu rất nhanh:

“Lấy thân ta làm vật cản””

(Phan Đình Giót – điều không hề nghĩ)

Đó là những cô gái Ngã ba Đồng Lộc tuổi mười tám đôi mươi với bao ước mơ còn dang dở:

“Mười chị em

Bỏ lại lược gương

Bỏ lại lá thư tình

Chưa kịp gửi”

(Trăng và mười cô gái Đồng Lộc)

Viết về những người con Hà Tĩnh, Trần Lê Xuân bày tỏ niềm tự hào đối với truyền thống quê hương và khẳng định những phẩm chất của con người Hà Tĩnh nghĩa tình, khí phách.

Có thể nói, quê hương trong thơ Trần Lê Xuân hiện lên qua những hình ảnh cụ thể, gần gũi và giàu sức gợi, đó là dòng La xanh biếc, những bến nước, con đò, dáng mẹ, bóng cha, những người mẹ mỏi mòn chờ con sau chiến tranh, những anh hùng liệt sĩ và cả những phận người lam lũ giữa thiên tai, mất mát... Sau mỗi câu thơ là tấm lòng trĩu nặng, tha thiết với quê hương, một tình yêu được bồi đắp từ sự gắn bó máu thịt với đất và người Hà Tĩnh.

Về nghệ thuật, thơ Trần Lê Xuân mang giọng điệu chân thành, mộc mạc, giàu cảm xúc. Ông lựa chọn ngôn ngữ gần gũi, dung dị nhưng giàu sức lay động. Hình ảnh thơ đã khắc họa vẻ đẹp đất và người Hà Tĩnh qua những địa danh, sản vật, con người, những hình ảnh quen thuộc của làng quê Hà Tĩnh. Điều đó giúp người đọc cảm nhận sâu sắc hơn vẻ đẹp của một vùng đất giàu truyền thống lịch sử, văn hóa và nghĩa tình.

Trần Hữu Vinh

. . . . .
Loading the player...