Giữa cái nắng oi nồng của tháng Bảy và cái hừng hực của gió Lào đặc sản, Hà Tĩnh hiện lên trong bài viết của Thanh Quý không phải bằng sự khắc nghiệt, mà bằng vị ngọt đượm của bát chè xanh, mùi rơm mới ngai ngái và những kí ức êm đềm bên hiên nhà. Trân trọng giới thiệu đến quý độc giả tản văn "Mùa nắng tháng Bảy" - một nốt trầm sâu lắng, chan chứa tình yêu quê hương của tác giả Thanh Quý (Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, Hà Tĩnh).
Mùa nắng tháng Bảy
Ấm chè xanh ở quê tôi lạ lắm, cứ phải vào cái nắng chói chang của tháng Bảy mới là lúc ngon nhất. Nghe qua tưởng chừng vô lý, bởi trời càng oi nồng thì nước chè lại càng chóng nguội, lá chè lại càng thêm chát. Nhưng chỉ có người Hà Tĩnh mới hiểu, phải giữa những ngày gió Lào phả hơi nóng hầm hập, khi vừa đi đồng về với giọt mồ hôi mặn chát nơi khóe mắt, nhấp một ngụm chè đặc mới thấu hết vị ngọt đượm nằm đằng sau cái vị chát ban đầu.
Tôi lớn lên cùng những ấm chè đượm vị như thế. Cứ sáng sớm, mẹ lại ra sau vườn hái nắm lá tươi, vò nhẹ rồi hãm vào chiếc tích sành đã ám màu khói bếp. Đến trưa, nước chè sẫm lại, đậy kín dưới hiên mà vẫn giữ trọn hơi ấm. Người làng đi ngang qua nhà, chẳng mấy ai hỏi nhau những câu xã giao, chỉ cất lên lời mời thương thuộc: “Vô làm ngụm chè đã.” Giữa cái nắng tháng Bảy, bát chè xanh tựa như một cớ duyên ngọt ngào để níu người ta ngồi lại bên nhau lâu hơn một chút. Nắng ngoài sân lúc ấy đứng bóng. Ở quê tôi, người ta ít khi than thở “hôm nay nóng quá”, mà thường bảo nhau: “Gió Lào nổi rồi.” Bốn chữ ngắn gọn thôi mà gói trọn bao điều. Là cái hừng hực phả thẳng vào mặt khi vừa mở cửa, là con đường bê tông trắng lóa đến nhức mắt, và cả cái giật mình buông tay khi lỡ chạm vào cán cuốc dựng dưới hiên, nóng như vừa lấy ra từ lò than.
Trưa tháng Bảy, làng quê chìm vào khoảng không im lìm đến lạ. Con chó nằm thảnh thơi dưới gầm giường, con gà bới quẩn quanh vài cái rồi chui tọt vào bụi chuối tìm bóng mát. Đôi dép nhựa bỏ ngoài thềm chẳng ai dám xỏ chân ngay, phải lấy mũi chân hất nhẹ lật úp lại, đợi bớt hơi nóng mới đi. Trong cái không gian tĩnh lặng ấy, chỉ còn tiếng máy bơm nước ngoài đồng chạy đều đều vọng qua bờ hói cạn. Thứ âm thanh đơn sơ ấy nghe mãi thành quen, để rồi khi đi xa, nó lại hóa thành niềm nhớ đau đáu.
Sau vụ chiêm, cánh đồng làng mở ra mênh mông và rực rỡ. Rơm cuộn tròn nằm vàng ươm dưới nắng, trông như những chiếc nong úp giữa khoảng trời bao la. Mùi rơm mới quyện với hương đất khô cằn tạo nên một mùi thơm ngai ngái thật khó gọi tên. Những người đàn ông tranh thủ ra bãi kiểm tra bờ thửa, người đàn bà tất bật trở lạc ngoài sân. Ai cũng vội vàng vun vén công việc trước khi mặt trời đứng bóng, bởi cái nắng tháng Bảy đã dạy cho con người nơi đây biết nâng niu từng khoảng thời gian dịu mát ngắn ngủi trong ngày.

Mùa nắng tháng Bảy (Minh họa: Linh Mai)
Có lần, một người bạn xa hỏi tôi: “Sống ở Hà Tĩnh cực vậy, sao ai cũng da diết nhớ quê?” Tôi lặng yên không trả lời ngay. Bởi thương quê đâu chỉ vì những cảnh đẹp nên thơ, mà vì quê hương đã thấm sâu vào từng nếp nghĩ, nếp sống bằng những điều bình dị nhất.
Người ta nhớ bát chè xanh chát đầu môi nhưng ngọt đượm rất lâu sau khi nuốt. Nhớ tiếng gọi nhau í ới ngoài đồng: “Ngoài ni đủ nước chưa?” - nghe như hỏi chuyện ruộng đồng, mà thực ra là đang hỏi thăm nhau chuyện đời, chuyện người. Người ta nhớ cả bóng phi lao đổ dài trên dải cát Thiên Cầm, nơi mấy người đàn ông ngồi vá lưới giữa trưa hè, câu chuyện rôm rả cứ thế nối dài như thể gió Lào chưa từng thổi qua.
Tháng Bảy cũng là lúc biển quê nhà khoác lên mình màu xanh biếc nhất. Từ sáng sớm, mặt trời đã vẽ một vệt sáng lung linh kéo dài trên mặt nước. Những chuyến thuyền đầy cá trở về, vây lưới còn ướt đằm vị mặn của đêm khơi. Trên bãi cát nóng bỏng chân, lũ trẻ vẫn hồn nhiên rượt đuổi, tiếng cười giòn tan hòa vào tiếng sóng. Người lớn nhìn theo mỉm cười rồi lại cúi xuống với nhịp sống mưu sinh. Cuộc sống ở quê tôi là thế, dường như chẳng bao giờ có thừa thời gian cho những lời than vãn.
Nhưng tháng Bảy đâu chỉ có nắng gay gắt và biển rộng bao la. Những ngày cuối tháng, con đường dẫn về Ngã ba Đồng Lộc lại rộn ràng hơn thường lệ. Giữa cái nóng đứng gió, dòng người lặng lẽ bước lên con dốc nhỏ. Chẳng ai bảo ai, mọi người đều đi thật nhẹ, nói thật khẽ. Tiếng ve vẫn râm ran trên những tán lá xanh, nhưng lòng người chợt chùng xuống khi đứng trước mười ngôi mộ trắng của những cô gái tuổi mười chín, đôi mươi.
Tôi đã nhiều lần ghé thăm Đồng Lộc vào những ngày tháng Bảy, và lần nào cũng cảm nhận ánh nắng nơi đây thật khác. Nắng không còn gắt gao như ngoài đồng bãi, mà dường như dịu lại, đậu nhẹ trên những hàng bia đá, trên những bó hoa tươi còn nguyên vệt nước. Có lẽ vì vậy mà người Hà Tĩnh đón nhận cái nắng bằng rất nhiều niềm cảm xúc. Nắng làm lưng áo đẫm mồ hôi, làm đất đồng nẻ chim chân, nhưng nắng cũng làm lúa thêm chắc hạt, làm muối thêm đậm đà và làm sáng lên những ký ức không bao giờ phai nhạt. Bao thế hệ đã lớn lên và trưởng thành dưới cái nắng gắt gao ấy, để rồi khi đi xa, họ mang theo nó như mang theo chính giọng nói ruột rà của quê hương.
Nhiều năm sau, sống giữa một thành phố rợp bóng râm, đôi khi lòng tôi lại chợt nhớ về một buổi trưa tháng Bảy ở quê nhà. Nhớ chiếc tích chè sành thân thương dưới hiên, nhớ tiếng máy bơm nước vọng từ đồng xa, nhớ đôi dép nhựa lật úp trên thềm, và nhớ cả câu nói quen thuộc: “Gió Lào nổi rồi”. Thì ra, quê hương chưa bao giờ là những điều gì quá đỗi lớn lao. Quê hương đọng lại trong vị chát đậm của bát chè xanh, trong hơi nóng còn vương trên cán cuốc lúc chiều tà, trong hương rơm nồng nàn sau mùa gặt, và trong cái nắng tháng Bảy đã âm thầm nuôi dưỡng biết bao tâm hồn lớn lên.
Đến giờ, tôi vẫn luôn thích ngồi trước hiên nhà, nâng bát chè xanh nóng hổi trên tay và ngắm nhìn vệt nắng nghiêng qua sân gạch. Ngoài kia, gió Lào vẫn miệt mài thổi. Trong nhà, ấm chè vẫn tỏa hương thơm mộc mạc quen thuộc. Và tôi chợt nhận ra, có những vùng đất chẳng níu giữ chân người bằng sự dịu dàng. Hà Tĩnh giữ người... bằng nắng.
Thanh Quý