17-10-2021 - 01:35

PHAN THÚY HÀ, TỪ XÓM TRÙA TRỞ THÀNH TÁC GIẢ “PHI HƯ CẤU” NỔI TIẾNG

Phan Thúy Hà sinh ra và lớn lên ở Hương Khê - Hà Tĩnh, là cây viết nổi tiếng gần đây với những cuốn truyện "phi hư cấu" "nổi đình đám trong giới truyền thông" như “Đừng kể tên tôi”,“Tôi là con gái của cha tôi”,“Gia đình”... Văn nghệ Hà Tĩnh trân trọng giới thiệu bài viết của nhà văn Nguyễn Khắc Phê "Phan Thúy Hà, từ xóm Trùa trở thành tác giả "phi hư cấu" nổi tiếng"

PHAN THÚY HÀ, TỪ XÓM TRÙA TRỞ THÀNH TÁC GIẢ “PHI HƯ CẤU” NỔI TIẾNG

                    (Đọc “Qua khỏi dốc là nhà” - NXB Kim Đồng, 2018)                                                                  

Tôi mới chú ý đến Phan Thúy Hà một năm nay, khi 3 cuốn truyện “phi hư cấu” của cô nổi đình đám trong giới truyền thông: “Đừng kể tên tôi”,“Tôi là con gái của cha tôi”,“Gia đình” đều do Nxb Phụ nữ cấp phép, trong đó cuốn “Đừng kể tên tôi” ghi theo lời kể của các cựu chiến binh (trong đó nhiều người là “đồng hương” với tác giả) đã tái bản lần thứ 4. Khi biết quê PTH ở Hương Khê (Hà Tĩnh) là nơi tôi đã qua lại nhiều lần trong những năm chiến đấu trên đường 12A, tôi đã “kết bạn” với cô qua Facebook. Hai “bác cháu” đã “trò chuyện” với nhau nhiều lần - tất nhiên qua thế giới ảo, nên mong có dịp gặp để hiểu thêm cuộc đời cây bút trẻ đồng hương, vừa nhập làng văn đã lập được kỳ tích.

Mấy năm qua, dư luận hầu như chỉ bàn đến 3 tác phẩm vừa nêu ở trên, nhưng Phan Thúy Hà còn cuốn thứ 4 “Qua khỏi dốc là nhà” (Nxb Kim đồng, 2018) cũng thuộc dòng “phi hư cấu” nhưng gần như là “Tự truyện”, lại bị “chìm” so với 3 cuốn viết toàn truyện “nhạy cảm” kể trên. Mặc dù có bạn đọc rành về văn chương cho rằng, cuốn này về một số mặt còn hay hơn 3 cuốn kia! Thì cũng như ở đời, của “chìm” nhiều khi lại là vật quý giá; cũng như sách “cũ” giá cao và có mấy tạp chí sang trọng đã có mục “Truyện hay đọc lại”…

Có thể xem “Qua khỏi dốc là nhà” là “chân dung tự họa” không chỉ của bản thân và gia đình Hà mà của cả một làng quê đúng là “vùng sâu vùng xa”, trong đó có xóm Trùa, xã Phúc Đồng huyện Hương Khê, liền kề với huyện Hương Sơn quê tôi; hơn nữa, đây là nơi tôi đã qua lại nhiều lần trong những năm chiến đấu trên đường 12A dưới chân đèo Mụ Giạ. Vậy nên, vào dịp ra Hà Nội đự Đại hội Nhà văn, tôi liền gọi cho Phan Thúy Hà và hai bác cháu lần đầu gặp nhau bên ngoài khách sạn La Thành. Như đã hẹn, Hà mang đến tặng tôi cuốn “Qua khỏi dốc là nhà”

Tôi đã đọc cuốn sách suốt trên chuyến tàu vô Huế  và ước chi tất cả các học sinh cấp 2 và cấp 3 được đọc tác phẩm này; mặc dù cuốn sách chưa được giới phê bình và truyền thông “để mắt” đến. Ở đây có vấn đề thị hiếu và tâm lý độc giả hiện nay do “Qua khỏi dốc là nhà” không thuộc dòng sách “ăn khách” trên thị trường - chỉ là chuyện những đứa trẻ cùng gia đình vật lộn với cuộc mưu sinh ở một vùng đất gian khó. Tác giả sinh năm 1979, bố đang học Đại học Tổng hợp Sử Hà Nội thì đi bộ đội, mẹ học Trường Sư phạm năm 1972 rồi trở thành cô giáo…

Chỉ riêng chuyện mẹ Phan Thúy Hà ra Hà Nội đi học năm 1972 đã rất độc đáo. Lúc này, Hà chưa ra đời. Mẹ nhận giấy báo trúng tuyển Đại học Sư phạm Hà Nội cuối năm 1972, giáp Tết. Chiến tranh, giấy tờ chậm, “mờ sáng ngày hai lăm tháng Chạp, ông ngoại và mẹ ra đường cái đón xe của bộ đội ra Bắc. Xe đến thị xã Thanh Hóa thì dừng… Cầu Hàm Rồng vừa bị đánh bom… Ông ngoại và mẹ lang thang đi tìm chỗ ngủ trong những ngôi nhà ngả nghiêng… Hai mươi sáu Tết, trường vắng ngắt. Giáo viên, sinh viên đã nghỉ Tết, về quê… Trong ba lô có ba cái bánh chưng. Mẹ giữ lại hai cái… Tiễn ông lên tàu, mẹ quay về ký túc xá khóc nức nở tủi thân… Không có tàu. Ông ngoại đi bộ theo đường sắt. Đến ga nào gặp tàu đi nhờ được một đoạn. Đêm ba mươi, sắp tới giao thừa, ông về tới nhà. Hai chân ông sưng phù…”. Ngày Tết có thể gọi là kỳ lạ của một tân sinh viên, đồng thời gợi nhớ cuộc sống gian khổ một thời. Nhưng gian khổ không làm chùn bước mà hun đúc nghị lực những con người ở vùng quê xa xôi ấy. Cô sinh viên sư phạm thành cô giáo trường làng, chồng bỏ dở khóa học ra mặt trận năm 1971, hơn hai chục năm xa nhà; một mình cô giáo chèo chống nuôi dạy 5 đứa con trong hoàn cảnh không thể thiếu thốn hơn nữa! Những câu chuyện Phan Thúy Hà thuật lại trong cuốn sách đã nói lên điều đó.

Năm anh chị em lớn lên chủ yếu trong thời đoạn bao cấp thiếu thốn đủ thứ sau chiến tranh. Không có những sự kiện lớn, mâu thuẫn “địch-ta” hay những cuộc đấu gay cấn với các quan tham và tệ nạn xã hội; cuốn sách gồm toàn những chuyện rất bình thường, thậm chí là nhỏ nhặt trong đời sống hàng ngày. Chuyện khó khăn thời bao cấp thì cũng đã có không ít sách nói đến. Chính là với một đề tài “chẳng có chi lạ” như vậy, Phan Thúy Hà đã chứng tỏ khả năng quan sát, lựa chọn chi tiết và thể hiện bằng một bút pháp riêng - giản dị, kiệm lời mà rất gợi cảm. Chuyện hai chị em tranh nhau ngủ với bà, nỗi đau khi người bạn phải bỏ học, tình cảnh mẹ con đi bán nón, bán chè suốt buổi không ai mua, chuyện nữ sinh “tuổi mới lớn” bỡ ngỡ trước dấu diệu giới tính… Cả đến chuyện con chó mực nhà chị Vân cũng làm bạn đọc thổn thức: khi gia đình chị dời vô Nam sinh sống, nhà dỡ rồi, nó vẫn về nằm trên nền đất cũ, chỉ khi sinh con, nó mới đến “tạm trú” bên thềm nhà Hà; sau đó mất tích; ai ngờ nó ra nằm trên mảnh ruộng cũ nhà chị Vân cho đến chết! Còn nhà Hà có con bê, do vô ý để nó bị cảm, bụng trướng mà tưởng nó ăn no, “suốt đêm bò mẹ rống lên cầu người cứu con mà không ai biết”; khi nó chết, Huân (em trai Phan Thúy Hà) “ôm bê khóc nức nở… Người ta đến nhà làm thịt con bê. Huân bỏ học, ngồi ở thềm cửa khóc bê hời hời…”

 Cuốn sách không chia chương hồi, thường là những đoạn văn ngắn, nhưng cũng có những “đoạn” nhiều tình tiết như trong một truyện ngắn. Hình như Phan Thúy Hà không mấy bận tâm đến thể loại, mà chủ yếu tìm cách diễn đạt tốt nhất cảm xúc của mình trước những cảnh đời, những số phận từng in dầu sâu đậm trong cuộc đời mình.

Tôi đọc cuốn sách khi mì tôm cứu trợ tràn ngập các tỉnh miền Trung, nên câu chuyện dân xóm Trùa lần đầu được ăn mì tôm như là truyện cổ tích và hấp dẫn như… khi chị em Hà được ăn mì tôm. Nhà có mì tôm nhờ o Liên ở thị trấn mua về tặng bà. “Một gói mì tôm, bà và 5 đứa cháu chia nhau. Còn bốn gói bà vùi trong thóc khỏi chuột gặm… Một đêm… mở mắt thấy bà đang mở cánh cửa sập. Bà bảo nghe loạt xoạt, đoán có chuột mò mì tôm…” Rồi đêm khác, nghe tiếng loạt xoạt, Hà thấy bà chui trong sập ra, bẻ nửa gói mì, còn nửa gói lại. “Bà thấy nhọc trong người…”. Thế là bà cháu nhen lửa để bà bồi dưỡng mì tôm. “Thìa cuối cùng, bà nhường cho mình. Ăn xong, hai bà cháu cười tươi. Bà lên giường ngủ ngon…”. Cô giáo ốm, “cả lớp góp tiền mua mì tôm tới thăm. Cô bảo lớp trưởng bóc hết ra mời các bạn. Mình đến lớp đem theo gói bột nêm bóc ra từ bao mì… Từng đứa xòe bàn tay ra chia đều liếm láp…”. Đọc chuyện thật mà như… bịa; thấy tội tội thương cảm một thời mà cũng ấm áp tình người một thời.

Ngày chiếc ti vi đầu tiên xuất hiện ở xóm Trùa cũng lắm “chuyện lạ” như thế. Phấn là “trưởng toán” trẻ con giỏi tìm cách đi xem nhờ ti vi nhà hàng xóm. Nhưng người xóm Trùa thời nghèo khó ấy luôn giữ nếp sống “đói cho sạch, rách cho thơm”, mà có lẽ nhà Phấn là tiêu biểu.  Cha Phấn vác cày ra đồng, thấy một lá tre rụng, “cũng thả cày vào nhà lấy chổi vơ sạch. Uống một bát nước chè ở nhà Phấn cũng ngon hơn vì từng cái bát được đánh sạch bong… Phấn bảo vì mình nghèo nên phải sạch sẽ khỏi bị khinh… Mẹ của Phấn đi đâu ai mời cũng bảo ăn no ở nhà rồi. Bụng đói cồn cào, nhưng đi qua sân nhà người ta đang ăn cơm, mẹ Phấn cũng bẻ cái tăm ngậm miệng vờ như vừa ăn xong…”.Phấn phải bỏ học từ nhỏ, trong lao động, Phan Thúy Hà xem Phấn như “sư phụ”; mỗi khi đi chặt củi, “gánh củi hắn to, đẹp, nuột nà. Gánh củi mình xộc xệch, rườm rà. Làm xong trước, hắn đi chặt giúp mình… Mình mở đùm cơm ra, chia hắn một nửa. Hắn bảo mình ăn từ từ để cảm nhận cho hết cái ngon…”. Phấn còn “dạy” cho Phan Thúy Hà muốn được các em nể trọng thì phải làm gương, bảo chúng quét nhà 1 lần không nghe thì mình quét, 3 lần như thế, chúng phải hiểu... Vậy mà một ngày Hà vô “đôộng” đi củi về, nghe tin Phấn nhảy giếng tự tử! “Tại sao mày chết?”. Câu hỏi day dứt Phan Thúy Hà mãi cho đến khi xóm Trùa nhiều nhà có ti vi, có điện “chẳng phải vừa xem vừa hồi hộp canh chừng bình ắc quy…”. Không dễ lý giải mọi điều trong cuộc sống, nhất là ở những vùng heo hút như xóm Trùa. Ví như nhà bác Chắt bỗng dưng bị vu “có thuốc độc” khi có đứa cháu ốm nặng “do ăn cơm nhà cậu Chắt”; thế là “một câu chuyện li kì rùng rợn được dựng lên…mỗi người lại thêm thắt tình tiết”; đến nỗi bác phải bỏ quê hương vô Nam. “Giờ phút ra đi, vác bao đồ lên vai, bác gục xuống bậc thềm nhà, khóc rống lên như một đứa trẻ”. Ở nơi xa quê, bác đột nhiên thành người mất trí!...

Dân xóm Trùa cũng có gia đình vô Nam, gặp điều kiện sinh sống dễ dàng, trở nên sung túc hơn. “Dốc quê nhà bây giờ cũng đã khác… Xe chở đất đi đắp đường…” Cuộc sống khởi sắc, Phan Thúy Hà đậu một lúc 3 trường đại học, em trai được chọn Trường năng khiếu cấp Bộ ở Vinh…, nhưng tác phẩm của Hà ghi lại nhiều câu chuyện xưa “khiến ta nghẹn giọng, vì nỗi buồn nặng như đất, mạnh mẽ và khô rốc ở trong đó” (Lời bình của nhà văn Lê Minh Hà) không chỉ để nhắc nhở thế hệ hôm nay phải biết trân quý cuộc sống đang không ngừng đổi mới mà còn lay động chốn sâu lắng hơn trong tâm hồn con người. Cuộc sống xô bồ, xu hướng chạy theo vật chất ngày một “lên ngôi” hiện nay rất dễ làm người ta xem nhẹ giá trị tinh thần, những tình cảm bà - cháu, mẹ - con, anh - em…cả tình thương, nỗi nhớ với con dốc, gốc cây, con chó, con bê từng chung sống với mình. Tất cả, đã được Phan Thúy Hà thể hiện một cách thật chân thực và cảm động. Con người hơn các loại sinh vật khác chính là ở đó! Và cuộc sống, tiện nghi giàu sang đến mấy cũng vẫn có cảnh đời bất hạnh, những lúc gặp chuyện đau buồn. .   

Vậy nên, đọc tác phẩm Phan Thúy Hà, nhà văn Lê Minh Hà bình luận: “Bạn sẽ được nhận vào mình một cảm giác rất đau và rất đẹp, là cảm thông được với con người”.  

Còn Phan Thúy Hà đã viết trong những trang cuối tác phẩm:

Người mua lại khu vườn nhà bác Chắt kêu xe tới xúc đất bán đi. Bác Chắt không trở lại. Bác không còn quê hương. Bác mất trí nhớ. Bác không biết buồn.

Một mình bước lặng giữa lối Động Am. Trưa hè tháng tư đàn bướm rợn ngợp trên những lối đi không dấu chân người… Những chiếc xe chở con dốc đi. Chở đi khúc tuổi thơ thân thương khó nhọc…”.

Từ xóm Trùa vùng núi Hương Khê xa xôi, từ tuổi thơ gian khó và giàu kỷ niệm như thế, Phan Thúy Hà đã trở thành cây bút được rất nhiều nhà văn tên tuổi cả 3 miền nể trọng. Mới đây, Phan Thúy Hà vừa cho in cuốn sách thứ 5: “Những trích đoạn của các anh” (Nxb Phụ Nữ Việt Nam” - Quý 3/2021) tiếp tục bút pháp 4 cuốn trước với cuộc đời những cựu chiến binh qua “trích đoạn” lời kể của các anh, giúp bạn đọc hiểu thêm dân tộc chúng ta đã giành chiến thắng với cái “giá” như thế nào, để càng biết ơn hàng triệu liệt sĩ, thương binh đã hiến dâng quãng đời đẹp nhất cho Tổ Quốc! Sách in chưa “ráo mực”, đêm 1/7/2021, nhà phê bình - đại tá Ngô Thảo đã chia sẻ với tác giả với những lời trân trọng:

“…Cách tiếp cận những số phận cụ thể, những câu chuyện cụ thể, những sự thật mà từng người lính trải nghiệm, làm cho nội hàm cũng như ngoại diên hiện thực chiến tranh, ở cả hai phía, hiện ra như một thế giới mênh mông. Bởi nó cuốn theo hàng triệu hàng chục triệu người, mà tính cách, số phận, không ai giống ai, cái sống, cái chết, cách sống, cách chết cũng không ai giống ai. Đây là lối đi giúp cho người đọc tiếp cận nhiều góc khuất của chiến tranh, mà những tác phẩm văn học,do nhu cầu hư cấu, khái quát, điển hình hóa đã bỏ qua.

Nếu những tác phẩm thành công về chiến tranh và cách mạng đã làm nên một đại lộ lớn hoành tráng, như những bản giao hưởng, thì bằng những mẩu ghi chép nhỏ, mà tính chân thực được bảo đảm bằng những cuộc đời cụ thể, Phan Thúy Hà đã tạo nên những khúc bolero đằm thắm tình người…”

Mừng cho Phan Thúy Hà và mừng quê hương Hà Tĩnh có thêm một cây bút mới nhập “làng văn” đã tạo nên “thương hiệu” được nhiều người tìm đến!

 

Nguyễn Khắc Phê                                                      

. . . . .
Loading the player...