16-02-2024 - 04:14

Địa tiên Tả Ao người mang mùa xuân về cho nhiều làng quê Việt

Tạp chí Hồng Lĩnh số Tết Giáp Thìn trân trọng giới thiệu bài viết của tác giả Nguyễn Khắc Thuần: "Địa tiên Tả Ao người mang mùa xuân về cho nhiều làng quê Việt"

Địa tiên Tả Ao người mang mùa xuân

về cho nhiều làng quê Việt

 

          

Tả Ao hay Tả Ao tiên sinh là một danh nhân làm nghề địa lý phong thủy nổi tiếng, bậc thầy khai sinh ngành địa lý phong thủy Việt Nam.

Ông học rộng tài cao nhưng không ra làm quan mà thích ngao du thiên hạ giúp muôn dân chọn đất lành, khai cơ lập ấp, xây cắt đình chùa, lăng tẩm miếu mạo, mồ mả tổ tiên, để xóm làng nhà nhà hòa thuận, phát đinh, phát lộc, phát tài, quốc thái dân an.

Trong dân gian, người xưa còn truyền lại bài thơ ngợi ca tài năng, công đức của ông:

Tả Ao phong thủy nhất trên đời

Họa phúc cầm cân định chẳng sai

Mắt thánh trông xuyên ba thước đất

Tay thần xoay chuyển bốn phương trời

Chân đi long hổ luồn qua gót

Miệng gọi thần linh ứng trả lời

Ai muốn cầu chi cho được nấy

Mắc ai địa lý được như Ngài

Theo PGS. Ninh Viết Giao: Tả Ao suốt đời hành thiện cho muôn dân nên được Nhân dân tôn kính, dân gian hóa, truyền thuyết hóa. Cuộc đời ông nhiều điều thực như hư, hư như thực đã thành huyền tích.

Trong muôn điều, “thực như hư, hư như thực đó”, điều rõ ràng nhất là ông quê ở làng Tả Ao nằm bên hữu ngạn sông Lam (giáp với làng Uy Viễn quê hương Dinh điền sứ Nguyễn Công Trứ và gần làng Tiên Điền, quê hương Đại thi hào Nguyễn Du, Ông sinh ra trong một gia đình mẹ cha đều làm nông, cái nghèo đã đeo bám quanh năm lại càng thêm khốn khó vì mẹ bị mù lòa, cha chết sớm. Làng Tả Ao xưa thuộc tổng Hoa Viên, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An nay là xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Vùng đất địa linh, nhân kiệt này có tục bất thành văn: Chỉ ai là người đạo cao, đức trọng được nhân dân tôn quý mới được lấy tên làng đặt tên cho mình, và ông là một trong những người như vậy. Tả Ao có nhiều danh tính khác nhau. Theo sách “Việt Nam phong tục" và sách “Nam Hải dị nhân" của Phan Kế Bính tên thật của ông là Nguyền Đức Huyền. Sách “Lịch triều hiến chương loại chí" của Phan Huy Chú thì ghi tên Ngài là Hoàng Chiêm hay Hoàng Chi. Còn trong sách “Nghi Xuân địa chí” của tú tài Lê Văn Diễn (người làng Tiên Bảo gần làng Tả Ao) viết năm 1842 thì ghi tên Ngài là Vũ Đức Huyền, hiệu Địa Tiên. Về năm sinh của Ngài, các nhà nghiên cứu chỉ dự đoán vào khoảng Nhâm Tuất (1442), thời Lê Sơ, của các triều vua Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông và Lê Tông Mục (1442 - 1509). Cũng có tài liệu cho rằng Tả Ao tiên sinh sống vào đời vua Lê Hy Tông (1676 - 1704).

Các trước tác của ông cơ bản đã thất truyền. Các sứ giả thời Lê - Nguyễn chỉ chép tản mát một số truyện. Sách địa lý phong thủy được cho là của Tả Ao truyền lại gồm: Tả Ao chân truyền di thư, Tả Ao chân tuyển tập. Tả Ao chân truyền địa lý (5 tập), Tả Ao tiên sinh bí truyền gia bảo trân tàng. Tả Ao tiên sinh địa lý, Tả Ao xã tiên sư thư truyền bí mật các lục. Các tác phẩm này hiện đang lưu giữ tại Viện Hán Nôm. Ngoài ra Tả Ao còn để lại Địa đạo diễn ca (120 câu văn vần), Dã Đàm hay Tầm long gia truyền bảo đảm (văn xuôi), Phong thủy Địa lý Tả Ao Bảo ngọc thư.

Các nghiên cứu xưa và nay đã công bố cũng như huyền tích về Tả Ao đều coi ông là Thánh Địa lý Tả Ao, Thủy tổ khai môn Địa lý phong thủy Việt Nam. Tài nghệ về địa phong thủy của ông được sánh ngang hàng với Cao Biền, bậc thầy phong thủy hạng nhất Trung Hoa.

Trong dân gian còn lưu truyền nhiều huyền tích về công trạng của ông. Chuyện kể rằng một lần ông lên bến Phủ Thạch (nay là xà Hưng Lam, huyện Hưng Nguyên, Nghệ An), gặp một thuyền buôn người Tàu bị nạn. Nhờ giỏi bơi lội nên ông đã cứu dược họ, chủ thuyền buôn người Tàu định tạ ơn ông trăm lạng bạc nhưng ông chối từ, chỉ ngỏ ý muốn theo thuyền buôn về Tàu học nghề thuốc chữa bệnh để chữa mù lòa cho mẹ. Chủ nhà buôn vui vẻ nhận lời và đưa ông sang Trung Hoa gửi ông cho một lương y tài hoa là hậu duệ của thánh y Hoa Đà để ông học nghề. Thầy thuốc người Tàu thấy Tả Ao sáng dạ lại có hiếu nên hết lòng dạy bảo. Một lần làng bên có một thầy địa lý bị mù lòa nên lương y giao cho Tả Ao sang đó chẩn trị. Được Tả Ao cứu đôi mắt sáng lại, thấy Tả Ao thông minh hơn người nên thầy địa lý nghĩ bụng: Người này có thể truyền nghề được đây!

Tả Ao cũng muốn học thêm nghề địa lý. Vì thế thầy địa lý Tàu đã nhận Tả Ao làm môn sinh và dày công dạy dỗ ông. Chỉ hơn 1 năm Tả Ao đã tinh thông nghề phong thủy địa lý. Để thử tay nghề của học trò, thầy địa lý đổ cát ra thành hình sông núi và vùi 100 đồng tiền ở các huyệt đạo, rồi bảo Tả Ao tìm thấy huyệt thì châm kim xuống. Tả Ao đã cắm được 99 kim đúng huyệt đạo (lỗ đồng tiền) chỉ sai 1 chính huyệt. Thầy địa lý ngẩng mặt lên trời than rằng: - Nghề ta nay đã sang nước Nam mất rồi! Và ông cho Tả Ao cái tróc long và thần chú để hành nghề địa lý phong thủy. Trước khi tiễn Tả Ao về nước, thầy địa lý căn dặn:

- Khi về nước nếu đặt chân lên dãy núi nào có 99 ngọn thì con không được lên.

Từ biệt thầy địa lý, Tả Ao về nước chữa khỏi bệnh cho mẹ. Một lần viễn du cùng bầu bạn thăm thú núi Hồng. Quên lời thầy dặn, ông đặt chân lên đỉnh núi. Trước một vùng non xanh, nước biếc mắt ông sáng lên khi thấy "Cửu Long tranh chầu” (chín rồng tranh ngọc). Ông mừng quá nói rằng: Huyệt đế vương đây rồi! Thầy không cho mình lên núi Hồng là vì vậy! Tả Ao âm thầm đưa mộ cha mình về táng ở đây. Ít lâu sau vợ ông sinh hạ được con trai tuấn tú, dĩnh ngộ hơn người. Khi ấy nhà Minh bên Tàu các thầy thiên văn phát hiện các tinh tú đều chầu về phương Nam, biết nước Nam đã sinh được người kiệt xuất. Điều này có hại cho nhà Minh nên vội khẩn tấu lên vua Minh. Vua nhà Minh hốt hoảng ra lệnh: Truyền các thầy địa lý ai đã dạy cho người Nam thuật đó phải sang tìm huyệt đạo mà yểm đi. Nếu không yểm được sẽ tru di tam tộc.

Ông thầy địa lý Tàu biết chỉ có Tả Ao mới làm được việc này nên sai con trai sang nước Nam tìm cách trấn yểm. Con trai thầy địa lý Tàu hỏi Tả Ao:

- Từ khi về nước đến nay, huynh đã cất bốc được phần mộ gia tiên nào chưa?

- Tả Ao thật thà kể lại.

Con trai thầy địa lý Tàu tìm cách trộm mộ cha Tả Ao và bí mật bắt con trai Tả Ao về nước. Cũng vì chuyện này mà mẹ Tả Ao đột ngột qua đời. Lo hậu sự cho mẹ, Tả Ao đã tìm được huyệt Hàm Long ngoài đảo định mang mẹ ra táng. Đến ngày giờ di quan thì trời mưa to, gió lớn thuyền không thể ra khơi. Lát sau trời yên biển lặng thì nơi đó nổi lên một cồn cát trắng xóa. Tả Ao ngửa mặt lên trời than rằng:

- Đây là Hàm Long: 500 năm trời mở miệng một lần trong một khắc. Trời đất đã không cho người làm sao đặng!

Từ đó Tả Ao chán nản gia cảnh bỏ quê hương đi chu du thiên hạ để chữa bệnh, tìm đất lành giúp đỡ mọi người. Khi già yếu Tả Ao cũng đã chọn chỗ an táng cho mình theo kiểu đất “nhất khuyển trục quần dương” (một con chó đuổi đàn dê) ở xứ Đồng Khoai. Nếu táng được ở đây thì chỉ sau 3 ngày thành Địa Tiên. Lúc 65 tuổi biết mình sắp chầu Tiên tổ nên Tả Ao bảo hai con khiêng đến chỗ ấy, để ông nằm dưới mộ tự phân kim (chôn lúc chưa chết hẳn). Nhưng mới được nửa đường bệnh đã nhập lý, biết là sẽ chết trước khi đến nơi chôn nên Tả Ao chỉ đại một gò đất ven đường mà dặn con rằng: Chỗ kia là ngôi “huyết thực” bất dắc dĩ cứ táng cha chỗ đó sẽ được người đời cúng tế.

Hai nhà nghiên cứu văn hóa dân gian xứ Nghệ là Thái Kim Đỉnh và Vũ Ngọc Khánh (người cùng quê với Tả Ao) đã giành nhiều thời gian để sưu tầm các truyền thuyết về Tả Ao và hành trình của ông đi tìm những vị trí đất lành, đất tốt đặt đình chùa, miếu mạo, mồ mả, nhà cửa giúp dân nghèo, trị kẻ ác. Tương truyền làng này, làng nọ có phong tục này đẹp, nghề này phồn thịnh đều là do Tả Ao chọn hướng đình. Họ này phát danh khoa bảng, họ kia phát công hầu khanh tướng là do Tả Ao tìm long mạch huyệt đạo, mồ mả. Ở làng Nam Trì, xã Đặng Lễ, huyện Ân Thi (Hưng Yên) còn lưu truyền huyền tích: Tả Ao giúp nhân dân nơi đây tìm đất tốt lập làng, đặt mộ phần của họ Đinh tại gò Tam Thái vượng về võ tướng. Quả nhiên đến năm Giáp Thìn niên hiệu Quảng Hòa thứ 4 (1544) đời Mạc Phúc Hải người họ Đinh ở làng Nam Trì là Đinh Tú đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân và được bổ nhiệm làm Hiến sát sứ Hải Dương được phong tước Phù Nam Bá. Hậu duệ của Đinh Tú là Đinh Văn Tá cùng là một danh tướng thời Lê - Trịnh. Nhớ công ơn của Tả Ao. dân làng đã tôn ông là Bản cảnh Thành Hoàng và lập đền thờ ông cùng tam vị Thượng đẳng phúc thần của làng. Ở đây còn lưu giữ được đôi câu đối tương truyền là của Tả Ao về địa lý phong thủy làng Nam Trì:

Tây lộ khê lưu kim tại hậu;

Đông giang thủy tụ mộc cư điền.

(Nghĩa là: Phía Tây của đường làng có dòng nước chảy, phía sau của làng là hướng Tây Bắc hành kim. Phía Đông của làng có sông nước tụ. làng nhìn về hướng Đông - Nam hành mộc). Các nhà nghiên cứu Thái Kim Đỉnh và Vũ Ngọc Khánh đã phát hiện được hơn 300 địa phương ở miền Trung và miền Bắc có miếu thờ Tả Ao.

Trải qua bao đời, người dân làng Hành Thiện (nay thuộc xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định) còn lưu truyền huyền tích: Một lần khi tới phủ Xuân Trường, ngài Tả Ao phải đi dò sang sông, nước cạn phải lội bùn một quãng mới lên được. Một người dân làng Hành Thiện đi trên đò đã cõng ông qua đò. Khi tới làng, dân chúng Hành Thiện khoản đãi ông nồng hậu. Trước tấm lòng mến khách, trượng nghĩa của người làng Hành Thiện. Tả Ao ngỏ ý xem xét thế đất cho họ. Sau khi xem xét. Tả Ao tới chỗ mỏm đất trước cửa đền Thành Hoàng nói rằng:

- Đất làng ta như con cá bơi ra biển nhưng thiếu con mắt nên cá chưa thể bơi lội cần đào giếng làm mắt cá.

Dân làng nghe theo, đào giếng trước cửa đền. Tả Ao dặn dò dân làng cần phải giữ gìn giếng sạch sẽ, nước giếng này rất thiêng, làng ắt có người làm quan đầu triều, con cháu khoa danh đời này tiếp đời khác.

Quả nhiên làng Hành Thiện ngày càng thịnh phát, nức tiếng xưa nay. Theo lịch sử xã, từ thời phong kiến, Hành Thiện đã có 419 người đỗ đạt (trong đó có 7 đại khoa: 3 tiến sĩ, 4 phó bảng). Thời nay, Hành Thiện có 45 con cháu là GS, PGS; 166 người là tiến sĩ. hơn 1.800 người là thạc sĩ, cử nhân. Một số người là yếu nhân của đất nước cũng sinh ra từ đất này như cố Tổng Bí thư Trường Chinh.

Dày công nghiên cứu về Tả Ao, nhà địa lý phong thủy PGS.TS Nguyễn Hoàng Diệp trên báo Văn hóa số ra ngày 18/7/1998 đã viết: Trấn yểm phong thủy được xem là một môn khoa học. Thầy địa lý phong thủy ngoài am tường về kiến trúc, phong thủy, hướng gió, mạch nước thì họ cần biết cách thuận thiên cho con người để thu hút khí tốt, năng lượng tốt phục vụ cho con người và thiên nhiên. Triết lý phong thủy của Tả Ao đã đạt đến tầm cao đó “Tiên là tích đức/ hậu là tầm long” nghĩa là tích đức đi trước, sống thuận quy luật tự nhiên hài hòa với sóng núi gió mưa mới “tầm” được long mới có huyệt đạo phúc lành nên ông sáng danh là khai sinh, là Thánh sư Địa lý phong thủy Việt Nam.

Xin mượn lời bài văn tế trong lễ tế Tả Ao hàng năm của dân làng Hành Thiện làm lời kết cho bài viết này:

... Bình sinh bước chân Ngài

đi khắp thế gian

Ngài đến đâu xóm làng

mùa xuân về đến đó

Con cháu đời đời vinh

Tổ tiên đời đời thịnh..

 

Nguyễn Khắc Thuần

__________________

Tài liệu tham khảo:

1. Việt Nam phong tục, Nam Hải dị nhân (Phan Kể Bính, NXB TP HCM. 1996)

2. Lịch triều hiến chương loại chí, NXB- VH-H-1990.

3. Nghi Xuân dư dịa chí - Tú tài Lê Văn Diễn, bản dịch của Thái Kim Đỉnh.

4. Lịch sứ xã Xuân Hồng huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định. NXB Nam Định. 1999.

 

 

 

 

. . . . .
Loading the player...