15-04-2020 - 10:36

VẺ ĐẸP NGÔN TỪ TRONG NHỮNG CÂU THƠ DIỄN TẢ CẢM XÚC KIM – KIỀU SAU KHI CHIA TAY

Tạp chí Hồng Lĩnh số 164 tháng 4 năm 2020 trân trọng giới thiệu một số ý kiến trao đổi lại của Phan Thị Thanh Thủy về bài viết của tác giả Phạm Quang Ái in trên Tạp chí Hồng Lĩnh số 158 (tháng 10/2019) xung quanh nội dung đọan trích trong Truyện Kiều của Nguyễn Du

               

“Hiểu ngôn từ văn chương, nhất là ngôn từ thi ca, mà hiểu một cách thô thiển, trần trụi thì không còn gì là văn chương nữa” (Phạm Quang Ái, Về cách hiểu một số đoạn thơ trong “Truyện Kiều”, Tạp chí Hồng Lĩnh số 158 tháng 10 năm 2019, trang 75 - 80). Bởi thế, muốn tìm hiểu một tác phẩm văn chương, ta luôn luôn có ý thức trong việc khám phá, tìm tòi vẻ đẹp lớp ngôn từ mà tác giả thể hiện. Đặc biệt, với những tác phẩm mang tính kinh điển như Truyện Kiều, khi mà vẻ đẹp ngôn từ của nó từ xưa đến nay như một thứ “ma lực” đã từng cuốn hút bạn đọc ở mọi tầng lớp, thì ta lại càng phải vô cùng cẩn trọng.

Đến với kiệt tác Truyện Kiều, dù chỉ vài câu thơ, hay một đoạn trích dăm mươi câu thôi, để tìm hiểu nó, nhiều khi đang là những cuộc chiến không phân thắng bại của bao học giả. Ở phạm vi bài viết này, chúng tôi cũng đã rất “liều lĩnh” để mong sao “chạm” được phần nào ý đồ sử dụng ngôn từ của tác giả.

   Sau khi Kim Trọng chia tay Kiều để về hộ tang chú ở Liêu Dương, Mối sầu sẻ nửa, bước đường chia hai của Thúy Kiều - Kim Trọng được Nguyễn Du diễn tả bằng những câu thơ vô cùng tinh tế: Buồn trông phong cảnh quê người/ Đầu cành quyên nhặt, cuối trời nhạn thưa/Não người cữ gió, tuần mưa/Một ngày nặng gánh tương tư một ngày…/Nàng còn đứng tựa hiên tây,/ Chín hồi vấn vít như vầy mối tơ/ Trông chừng khói ngất song thưa,/Hoa trôi giạt thắm, liễu xơ xác vàng. Ở hai phương trời cách biệt, thử thách về không gian, thời gian chính là thước đo tình cảm lứa đôi. Tác giả đã dành tám câu thơ chia đều đặn cho hai người để diễn tả cảm xúc của đôi tình nhân trong cách xa.

 Thể hiện dòng cảm xúc của Kim Trọng, tác giả mở đầu bằng câu thơ Buồn trông phong cảnh quê người thấm đẫm tâm trạng. Cụm từ buồn trông trong câu thơ gợi cho ta cảm nhận về nỗi buồn xa vắng –  một khoảng tĩnh lặng trong tâm hồn của nhân vật khi đang hướng tới một đối tượng nào đó. Cách dùng này không chỉ quen thuộc trong Truyện Kiều (Buồn trông cửa bể chiều hôm…), mà còn rất phổ biến trong thơ ca, đặc biệt ở ca dao: -“Đêm qua ra đứng bờ ao,/trông cá, cá lặn, trông sao, sao mờ./Buồn trông con nhện giăng tơ,/Nhện ơi nhện hỡi, nhện chờ mối ai?/Buồn trông chênh chếch sao Mai,/Sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ?”… Với Kim Trọng, khi chàng Buồn trông phong cảnh quê người cũng là lúc niềm tương tư đang trỗi dậy. Vậy ở thời điểm nào chàng mới thực sự tĩnh tâm trong tâm hồn để buồn trông? Khoảng lặng trong tâm hồn không thể đến trên đường đi, bởi lẽ Kim Trọng lúc ấy rất vội vàng. Chú đang trong tình cảnh Bơ vơ lữ thấn, tha hương đề huề nơi đất khách, nên lúc này hẳn bước chân hiếu nghĩa của chàng đang cuống cuồng mong về cho kịp. Hơn nữa, trên đường từ Bắc Kinh đến Liêu Dương, trong nỗi buồn tang tóc, đã vội, lại thêm sự gian nan cách trở sơn khê thì sao chàng Kim có đủ tĩnh tâm để dành thời gian Buồn trông phong cảnh quê người (dù quê người trỏ đất Liêu Dương hay nơi nào đi chăng nữa)? Dòng tâm trạng này có thể xuất hiện khi Kim Trọng đang lo tang đám hay không? Điều này càng không thể, khi mà tang gia bối rối, chàng Kim làm sao có thời gian tĩnh lặng mà buồn trông được? Vì vậy, rất có thể vào khoảng thời gian sau khi lo xong tang đám ở Liêu Dương, ở chàng Kim mới trỗi dậy cảm xúc riêng tư Buồn trông phong cảnh quê người. Điều này hẳn có lí, vì liên hệ với nguyên bản, ta thấy chi tiết này được tác giả Kim Vân Kiều truyện viết: Kim Trọng theo cha đến Liêu Dương, thu xếp việc tang cho ông chú và tiền vốn trong cửa hàng, quanh quẩn hết bốn tháng trời mới trở về Kinh (Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Nguyễn Đức Vân, Nguyễn Khắc Hanh dịch, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, năm 2001, trang 244). Thanh Tâm Tài Nhân đã nói đến thời gian Kim Trọng ở Liêu Dương sau tang đám kéo dài bốn tháng trời. Đến Truyện Kiều, Nguyễn Du cũng đề cập: Từ ngày muôn dặm phù tang/ Nửa năm ở đất Liêu Dương lại nhà

Từ những liên tưởng có cơ sở như thế, ta thấy việc Kim Trọng lo tang đám xong rồi dành thời gian tĩnh tâm nhớ đến người yêu cũng là lẽ thường. Vậy nên trong mối sầu sẻ nửa ấy, Buồn trông phong cảnh quê người sẽ là dòng tâm trạng của nhân vật Kim Trọng khi đang ở Liêu Dương để hướng về quê người. Và như thế, quê người ở đây sẽ là Bắc Kinh, nơi Kiều đang sinh sống. Hiểu vấn đề như vậy, chúng tôi cho rằng tác giả Phạm Quang Ái (trong Tạp chí Hồng Lĩnh số 158 tháng 10 năm 2019, trang 75 – 80) đã lầm lẫn khi cho rằng quê người dùng trỏ đất Liêu Dương hoặc nói rộng ra còn là bao gồm những vùng đất mà bố con Kim Trọng đi qua trên đường đến Liêu Dương.

Nơi Liêu Dương buồn trông về quê người, không gian nghệ thuật ấy chứa đựng bao hàm ý. Mượn phong cảnh gợi tình, rồi với cách dùng hình ảnh  quê người rất mơ hồ, Nguyễn Du đã khơi lên bao thắc mắc, trăn trở ở người đọc. Một chàng Kim đã từng khao khát cháy lòng trong tình yêu, nay xa cách sẽ ra sao?. Để Kim Trọng suy tư dõi tầm mắt nơi quê người thăm thẳm, tưởng chừng không xác định địa điểm, tác giả tiếp tục gợi mở về trạng thái cảm xúc của chàng qua câu thơ Đầu cành quyên nhặt, cuối trời nhạn thưa. Câu thơ có hình thức tiểu đối mà mỗi vế lại chia ra hai phần: phần thứ nhất chỉ vị trí (đầu cành/ cuối trời), phần thứ hai chỉ hoạt động của đối tượng (quyên nhặt/ nhạn thưa). Vậy tác giả muốn nhấn mạnh sự xuất hiện của sự vật quyên, nhạn hay muốn miêu tả tính chất hoạt động của chúng nhặt (quyên), thưa (nhạn)?  

Trường hợp thứ nhất, giả định rằng Nguyễn Du muốn nhấn mạnh vào sự xuất hiện của quyên, nhạn. Nếu thế thì khác nào tác giả Truyện Kiều đang sử dụng phép hoán dụ, theo cách chỉ dấu hiệu sự vật theo mùa. Cách mượn hình ảnh loài vật để chỉ sự vận hành của thời gian vẫn thường được sử dụng trong thơ ca. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du cũng đã dùng rất nhiều lần: Lần lần ngày gió đêm trăng/ Thưa hồng, rậm lục đã chừng xuân qua, - Dưới trăng quyên đã gọi hè/ Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông… Lấy hiện tượng thiên nhiên để chỉ thời gian như trên là cách tiền nhân vẫn dùng, thường đơn thuần nói về hiện tượng thời gian chuyển mùa. Nhưng trong bốn câu thơ diễn tả cảm xúc Kim Trọng khi cách xa, tại điểm nhìn Liêu Dương buồn trông về quê người yêu, tác giả không thể để chàng Kim đồng thời, cùng lúc thấy xuất hiện hiện tượng của quyên (mùa hè), nhạn (mùa thu) được. Như thế, hình ảnh quyên, nhạn trong câu thơ 566 sẽ không được Nguyễn Du dùng theo phép hoán dụ như các ví dụ trên. Trên vấn đề này, tác giả Phạm Quang Ái có cách hiểu khác: “Chúng tôi không đi vào bàn cãi “quyên” và “nhạn” là loại chim gì mà cứ theo cách hiểu phổ biến xưa nay của các nhà bình giải “Truyện Kiều”, xem “quyên” là chim quốc kêu để báo hiệu mùa hè và “nhạn” là loại chim báo hiệu mùa thu. Nghĩa là câu thơ nói về một khoảng thời gian dài từ đầu mùa hạ cho tới đầu mùa thu, khoảng thời gian đủ để Kim Trọng đi qua hàng ngàn dặm đường và đã đến Liêu Dương lo việc tang cho chú. Ngữ thức này là cách nói ước lệ, dùng yếu tố không gian (quyên kêu, nhạn bay) để chỉ thời gian đồng thời để thể hiện tâm trạng buồn dằng dặc của Kim Trọng”. Khi đưa ra cách hiểu ấy, có lẽ Phạm Quang Ái đã dựa vào cách dùng hình ảnh như các ví dụ đã nêu trên và từ chú thích: Chim đỗ quyên, tức chim quốc. Đây tả cảnh cuối hè sang đầu thu. Tiếng quyên kêu còn ra rả (nhặt) đầu cành và bóng nhạn đã thấy bay loáng thoáng (thưa) ở chân trời (Nguyễn Du, “Truyện Kiều”, Vũ Ngọc Khánh, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2005, trang 54). Theo ông Ái, hãy cứ tạm cho rằng cách nói ước lệ, dùng yếu tố không gian (quyên kêu, nhạn bay) để chỉ thời gian từ đầu mùa hạ cho tới đầu mùa thu, khoảng thời gian đủ để Kim Trọng đi qua hàng ngàn dặm đường và đã đến Liêu Dương lo việc tang cho chú. Như vậy sẽ mất ba tháng, chưa kể cộng thêm thời gian Đem tin thúc phụ từ đường, thì thử hỏi lúc chú đang bơ vơ lữ thấn (chết mà chưa chôn), liệu có cách nào bảo quản thi hài trong khoảng thời gian ấy hay không(!?). Thiết nghĩ, trong cảnh huống chờ Kim Trọng về hộ tang, chắc rằng Nguyễn Du không mượn quyên, nhạn để chỉ thời gian khi mà sự xuất hiện của sự vật được tính bằng độ dài như thế.

Trường hợp thứ hai, giả định rằng Nguyễn Du quan tâm hơn hết đến việc miêu tả tính chất hoạt động của sự vật: nhặt (quyên), thưa (nhạn). Như thế quyên, nhạn sẽ được hiểu theo nghĩa ẩn dụ, tượng trưng cho nỗi nhớ (qua tiếng kêu, cánh thư), nên nội dung câu thơ đang hướng tới miêu tả tính chất hoạt động của sự vật ở hai vị trí  đầu/ cuối. Trong bốn câu thơ diễn tả cảm xúc Kim Trọng khi xa Kiều, với tâm trạng buồn trông của nhân vật trữ tình đang dõi tầm mắt về quê người, chàng đã đặt trong sự so sánh về cảm xúc. Nơi Liêu Dương chàng đang cồn cào, dồn dập nhớ về nơi ấy (đầu cành quyên nhặt), còn người yêu thì cứ bình lặng, nhàn nhạt (cuối trời nhạn thưa). Liên hệ ở thời điểm chia tay Kiều, ta thấy chàng Kim cũng đã từng lo lắng khi thốt lên Gìn vàng giữ ngọc cho hay/ Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời!”, thì giờ cách xa biền biệt, chàng khó lòng gạt được tâm lí đa nghi. Vì thế, trong câu thơ Đầu cành quyên nhặt, cuối trời nhạn thưa, hình ảnh quyên, nhạn sẽ được hiểu theo nghĩa ẩn dụ. Điều này cũng không phải là hiện tượng cá biệt trong văn học.“Từ xưa người Việt Nam ta vẫn cho đỗ quyên là chim quốc mà xem chim quốc tượng trưng cho lòng nhớ nước”, có lẽ thế mà Nguyễn Du đã linh hoạt trong việc chuyển nghĩa, lấy quyên tượng trưng cho lòng nhớ nhung (quyên nhặt), nỗi nhớ liên tục, khôn nguôi của Kim Trọng dành cho Kiều trong xa cách. Còn nhạn được dùng để nói việc báo tin, vì lúc này Kiều đang ở cuối trời (Bắc Kinh), Kim Trọng ở Liêu Dương chẳng thể biết tin tức gì về nàng (Theo Lê Mạnh Chiến, trong bài viết “Cớ sao đổi tên chim Én thành chim Nhạn”, www.vanhoanghean.com.vn : “Chim nhạn đã đi vào văn thơ Việt Nam với nghĩa bóng là phái viên đưa thư”). Vì thế, hình ảnh chim nhạn đã xuất hiện nhiều trong văn thơ cổ: “Mây giăng ải bắc trông tin nhạn / Ngày xế non nam bặt tiếng hồng” (“Xúc cảnh” – Nguyễn Đình Chiểu); hay: “Ngày sáu khắc tin mong nhạn vắng/ Đêm năm canh tiếng lắng chuông rền” (“Cung oán ngâm khúc” – Nguyễn Gia Thiều). Với cách dùng hình ảnh “quyên”, “nhạn” mang ý nghĩa tượng trưng như thế, đó chẳng phải tác giả nhằm tạo ra sự đối nghịch “quên nhặt”>< “nhạn thưa” với dụng ý bộc lộ hai thái cực cảm xúc khao khát> (http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/ve-tu-troi-trong-truyen-kieu).

Với cách nghĩ rất mơ hồ: quê Kiều -  quê người, cũng như sự so sánh “khập khiễng” Đầu cành quyên nhặt/ cuối trời nhạn thưa, chẳng phải Kim Trọng đang tự trách móc, đặt/ trói mình để tạo nên khoảng cách về tình cảm với người yêu hay sao? Từ trí tưởng tượng “phong phú” ấy, sự dằn vặt tinh thần của chàng Kim ngày càng lớn, đến mức cồn cào dông bão: Não người cữ gió tuần mưa/ Một ngày nặng gánh tương tư một ngày.

Nguyễn Du đã đặt chàng Kim vào tình huống tâm lí bất an khi xa cách người yêu. Có lẽ ông rất “thấu hiểu” nỗi niềm Kim Trọng đang tự bấu víu vào sự hoài nghi vô cớ nên đã đẩy dòng cảm xúc lên cao trào, đỉnh điểm Não người cữ gió, tuần mưa. Nếu không buồn trông để rồi sinh ra “tật” đa nghi, liệu chàng Kim có lâm vào tình trạng như vậy không? Tác giả đã mượn hiện tượng thiên nhiên cữ gió, tuần mưa để diễn tả cơn dông bão trỗi dậy trong lòng chàng Kim. Chính cách chuyển nghĩa ấy đã giúp ta thấy được nỗi niềm chàng Kim “sóng gió” đến mức nào. Nhìn chàng Kim, ta thấy có gì đấy rất cảm tính, yêu đến mê muội, nhưng thật đáng trân trọng bởi đó là căn bệnh trầm kha trong tình yêu ít ai tránh khỏi (http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/ve-tu-troi-trong-truyen-kieu).  Về câu thơ Não người cữ gió tuần mưa, tác giả Phạm Quang Ái đã lí giải: “Theo các nhà biên khảo, một “cữ” là 7 ngày, một tuần là 10 ngày. Trong tính thành ngữ thì “cữ gió, tuần mưa” có nghĩa là chịu đựng “gió mưa” liên tục, nghĩa là chịu gian khổ, cực nhọc kéo dài. “người cữ gió tuần mưa” ở đây không thể là ai khác ngoài Kim Trọng (tỉnh lược vế của câu: người đang trong lúc cữ gió, tuần mưa, đang chịu đựng gian khổ nơi đất khách quê người). Trên đường đi đến nơi đất khách xa xôi Kim vừa nhớ Kiều vừa lạ cảnh, lạ người nên có tâm trạng cô đơn, buồn miên man; còn Kiều thì “đứng tựa hiên Tây” hình dung chặng đường xa xôi Kim phải liên tục chịu cảnh “cữ gió, tuần mưa” mà lo phiền, ray rứt, khắc khoải “Chín hồi vấn vít như vầy mối tơ”. Cách hiểu này có lẽ không phù hợp với điều Nguyễn Du muốn thể hiện. Thứ nhất, đây là một trong bốn câu thơ diễn tả mạch cảm xúc của chàng Kim khi đang ở Liêu Dương nhớ về Kiều (tác giả diễn tả dòng mạch tương tư rất mạch lạc, không để diễn ra sự chồng lấn giữa chuyện của đối tượng này với chuyện của đối tượng kia). Đã như thế, ý kiến của Phạm Quang Ái cho rằng Kiều hình dung chặng đường xa xôi Kim phải liên tục chịu cảnh “cữ gió, tuần mưa” mà lo phiền, ray rứt, khắc khoải “Chín hồi vấn vít như vầy mối tơ”, chỉ là sự suy diễn mơ hồ. Thứ hai, nếu câu thơ không nằm trong dòng cảm xúc chàng Kim khi nhớ về Kiều mà đứng độc lập, thì với cách hiểu của mình, ông Phạm Quang Ái đã vô tình cho rằng Nguyễn Du đang diễn đạt phi logic. Bởi, khi chia tay Kim Trọng, Kiều đã giãi bày: Quản bao tháng đợi, năm chờ,/ Nghĩ người ăn gió nằm mưa xót thầm. Nếu giờ đây, cữ gió, tuần mưa được hiểu theo cách mà ông Phạm Quang Ái diễn giải, thì ta buộc phải nhận định rằng Nguyễn Du đã rất “vụng” khi dùng hình ảnh trùng lặp.

 Trong bốn câu thơ diễn tả nỗi niềm chàng Kim, nếu như câu đầu tiên Buồn trông phong cảnh quê người đã mở ra dòng tâm trạng buồn nhớ, trống trải thì câu cuối cùng Một ngày nặng gánh tương tư một ngày… mang tính “hệ quả”. Với cách thức thể hiện ấy, tác giả đã giúp người đọc hình dung sự  kết đọng nhớ nhung, yêu thương, dằn vặt của kẻ đang yêu quá mức mà sinh ra hoài nghi vô cớ. Ngẫm mà hay, người được coi là bậc tài danh, kẻ thiên tài, thông minh tính trời, vậy nhưng vì yêu mà thành ra “thơ ngây” quá đỗi. Chàng Kim đã bằng mọi cách để tưởng tượng, suy đoán để rồi tự đày ải, hành hạ mình một cách vu vơ.

Tại Kim Trọng đa nghi, chứ Kiều đâu phải như chàng tưởng tượng. Đọc bốn câu thơ diễn tả tâm trạng Kiều sau khi chia tay người yêu, ta thấy nàng cũng nao lòng lắm chứ. Không phải vô tình Nguyễn Du để cho nhân vật xuất hiện trong trạng thái Nàng còn đứng tựa hiên tây. Thông thường khi diễn đạt những vấn đề mang tính tương ứng, trong cuộc sống cũng như văn chương, người ta thường dùng theo kiểu: bên kia thế ấy, bên này thì thế kia; nó mà như thế, thì mình cũng chẳng thua kém gì … Nếu theo lẽ thường này, đáng lẽ ra Nguyễn Du sẽ dùng từ “thì” thay từ còn (Kim Trọng nhớ như thế này thì Kiều cũng nhớ như thế kia). Nhưng ở góc nhìn của mình, Nguyễn Du không muốn dừng ở việc vẽ ra hiện tượng mà đang muốn khám phá cái bản chất. Theo mức độ diễn biến thời gian tiếp diễn, việc Nàng (còn) đứng tựa hiên tây đã diễn tả một sắc thái tình cảm tư lự, sâu nặng của nàng. Khoảng thời gian khi chia tay chàng Kim đến lúc cha mẹ về, nàng sống bằng nỗi niềm canh cánh, thường trực, không rời mắt khỏi bước chân người yêu. Ở vị trí hiên tây, lòng dạ Kiều Chín hồi vấn vít như vầy mối tơ, lung bung khó lòng tháo gỡ, bởi nàng trong tình trạng ruột chín lần bị đau quặn lại (Nguyễn Du, “Truyện Kiều”, Vũ Ngọc Khánh, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2005, trang 54). Nàng quặn thắt tâm can khi hình dung chặng đường Kim Trọng về Liêu Dương xa xôi cách trở, vất vả hộ tang chú nơi đất khách. Bằng cảm xúc nhớ, thương Trông chừng khói ngất song thưa, Kiều muốn qua áng mây, ngọn khói để gửi gắm tâm tư mình đến nơi Liêu Dương vời vợi. Từ tình thương, nỗi nhớ dành cho Kim Trọng, nàng hình dung một ngày mình sẽ như Hoa trôi giạt thắm, liễu xơ xác vàng. Kiều muốn gió sẽ đưa theo ngọn khói đến Liêu Dương để người yêu thấu tỏ tình cảnh của nàng lúc này. Nỗi lòng trĩu nặng lo lắng, một niềm thương nhớ không chút hoài nghi. Xây dựng hình ảnh thơ gợi lên vẻ tiều tụy, suy giảm (Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh à Hoa trôi giạt thắm, liễu xơ xác vàng), tác giả giúp ta nhận thấy người quốc sắc ấy đã vì tình yêu mà sẵn sàng để phó mặc cho sự “bào mòn” thân xác. Thế mới biết, ở thời điểm sau khi chia tay, tình yêu của Kiều đối với Kim Trọng không những không hề “nhẹ” như chàng tưởng tượng, trái lại còn toàn tâm toàn ý dành tình cảm cho người yêu nơi phương xa.

Từ những điều phân tích, ta thấy tác giả đã rất chặt chẽ trong việc xây dựng Mối sầu sẻ nửa, bước đường chia hai của đôi tình nhân. Đó là một cảm xúc tương ứng, trọn vẹn trong tình yêu đôi lứa. Có lẽ cùng chung cách hiểu này mà nhiều học giả khi viết về Truyện Kiều đã hữu ý lựa chọn một hình thức trình bày văn bản phù hợp.

1. Văn bản Nguyễn Du, “Truyện Kiều” ( Vũ Ngọc Khánh, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2005, trang 54): Đầu cành quyên nhặt, cuối trời nhạn thưa./Não người cữ gió, tuần mưa,/Một ngày nặng gánh tương tư một ngày/Nàng còn đứng tựa hiên tây,/Chín hồi vấn vít như vầy mối tơ./Trông chừng khói ngất song thưa,/Hoa trôi giạt thắm, liễu xơ xác vàng.

Ở văn bản Nguyễn Du, “Truyện Kiều”, kết thúc dòng cảm xúc của Kim Trọng, tác giả đã sử dụng dấu ba chấm (…) để chuyển sang mạch cảm xúc của Kiều.

2. Văn bản Từ điển “Truyện Kiều” (Đào Duy Anh, in lần thứ hai, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 1989, trang 539): Buồn trông phong cảnh quê người,/Đầu cành quyên nhặt, cuối trời nhạn thưa./Não người cữ gió, tuần mưa,/Một ngày nặng gánh tương tư một ngày./     /Nàng còn đứng tựa hiên tây,/Chín hồi vấn vít như vầy mối tơ./Trông chừng khói ngất song thưa,/Hoa trôi giạt thắm, liễu xơ xác vàng.

Ở văn bản Từ điển “Truyện Kiều”, các câu miêu tả cảm xúc của chàng Kim và Kiều được phân cách bằng một khoảng trắng.

3. Văn bản TruyệnThúy Kiều ( Bùi Kỉ và Trần Trọng Kim hiệu khảo, Nhà xuất bản Thế Giới, năm 2015, trang 90): Buồn trông phong cảnh quê người,/Đầu cành quyên nhặt, cuối trời nhạn thưa./Não người cữ gió, tuần mưa,/Một ngày nặng gánh tương tư một ngày./  IV /Nàng còn đứng tựa hiên tây,/Chín hồi vấn vít như vầy mối tơ./Trông chừng khói ngất song thưa,/Hoa trôi giạt thắm, liễu xơ xác vàng.

Ở văn bản Truyện Thúy Kiều, cảm xúc của Kim và Kiều đã được người biên soạn phân tách rất rõ ràng theo từng phần (phần III và phần IV).

Qua khảo sát hình thức trình bày các câu thơ thể hiện tình cảm Kim – Kiều sau khi chia tay chỉ ở 3 văn bản đã dẫn, có thể nhận thấy cách lý giải như trên của chúng tôi về một đoạn thơ trong Truyện Kiều là có căn cứ.

Ông Phạm Quang Ái, trong bài viết đã nêu, cho rằng: câu thơ 564 được chia thành hai vế tiểu đối “Mối sầu sẻ nửa, bước đường chia hai” “là để mở ra đoạn thơ tiếp theo nói về tâm trạng của hai nhân vật sau khi đã thật sự xa cách nhau. Hai câu thơ “Buồn trông phong cảnh quê người/Đầu cành quyên nhặt, cuối trời nhạn thưa” là nói về Kim Trọng, là nỗi niềm, tình cảnh của Kim trên đường sang Liêu Dương xa xôi ngàn dặm. […]. Đối ứng với hai câu tả nỗi niềm Kim Trọng là hai câu tả tâm tư Kiều. Nếu ở hai câu trên Nguyễn Du mở đầu bằng ngữ “buồn trông” thì hai câu tiếp theo, ông mở đầu bằng hai chữ “não người”. […]. Trên đường đi tới nơi đất khách xa xôi Kim vừa nhớ Kiều vừa lạ cảnh, lạ người nên có tâm trạng cô đơn, buồn miên man; còn Kiều thì “đứng tựa hiên Tây” hình dung chặng đường xa xôi Kim phải liên tục chịu cảnh “cữ gió, tuần mưa” mà lo phiền, ray rứt, khắc khoải “chín hồi vấn vít như vầy mối tơ”. Tóm lại, trong 4 câu thơ này tác giả tả tình cảnh, tâm tư của Kim và Kiều một cách khái quát, ước lệ; tả trong sự hình dung của mình và của chính nhân vật. Phải chăng đây là cách lý giải “đoạn nọ xọ đoạn kia”, chưa làm rõ được sự công phu và tinh tế của Nguyễn Du trong việc khám phá bản chất của mối tình Kim - Kiều?

Từ biến cố đầu tiên trong mối tình Kim - Kiều, Nguyễn Du đã hóa thân vào mỗi nhân vật để tạo dựng nên mối tình sắt son thuở ban đầu, gợi vô vàn cảm xúc cho độc giả. Qua thử thách về không gian, những dấu hiệu về “bệnh” tương tư của Kim – Kiều bộc lộ rất rõ. Đó là lẽ thường trong tình yêu, rất đáng được trân trọng.

 Tìm hiểu tám câu thơ diễn ta cảm xúc Kim – Kiều sau khi chia tay, ta thấy được vẻ đẹp đầy tính “bí ẩn” của ngôn từ, khi mà Nguyễn Du không muốn dành sự dễ dãi cho độc giả. Qua việc đi tìm vẻ đẹp ngôn từ trong kiệt tác Truyện Kiều nói riêng và tác phẩm văn chương nói chung, một lần nữa chúng tôi xin nhắc lại ý kiến của tác giả Phạm Quang Ái: “Hiểu ngôn từ văn chương, nhất là ngôn từ thi ca, mà hiểu một cách thô thiển, trần trụi thì không còn gì là văn chương nữa. Nhưng nếu hiểu một cách tùy tiện, suy diễn thiếu căn cứ thì đó lại là cách thông diễn sấm ký, đẩy văn chương đến địa hạt của thứ diễn ngôn “bất khả giải” nên muốn lý giải thế nào cũng được….   Vì vậy, người tiếp nhận văn chương dù trí tưởng tượng phong phú đến đâu, khả năng tự biện đến mức nào cũng không thể làm ngược cái quy trình trên hoặc tìm cách gán cho ngôn từ văn chương của ai đó những ý nghĩa mà nó không thể có, làm cho nó vốn trong sáng trở thành tối tăm, trở thành nồi lẩu để bỏ bất cứ thứ gì vào cũng được”. Biết thế, nhưng quả thật, việc ứng dụng lí thuyết vào thực tế vẫn đang là bài toán nan giải luôn thử thách chúng ta.

Phan Thị Thanh Thủy

 

. . . . .
Loading the player...