06-02-2020 - 07:17

THẨM MĨ THƠ ĐƯƠNG ĐẠI, TỪ QUÊ XUỐNG PHỐ

Inrasara là một nhà thơ Chăm nổi tiếng, ông cũng người có nhiều bài viết sắc sảo về thơ ca đương đại. Tạp chí Hồng Lĩnh số tết giới thiệu bài viết của nhà thơ Inrasara

 

                  THẨM MĨ THƠ ĐƯƠNG ĐẠI, TỪ QUÊ XUỐNG PHỐ

 

Tâm lí chung của con người ưa xu hướng vuốt ve kỉ niệm, tô hồng quá khứ, quan niêm cái đã qua là đẹp, tốt. “Thời trước làm quan cũng thế a!” (Nguyễn Khuyến). Và luôn xem những gì thuộc về đồng quê là thơ, mộng. Thơ Việt Nam từ thời Thơ Mới, qua Đổi mới cho đến những năm đầu thiên niên kỉ thứ ba sau Công nguyên vẫn chưa chuyển đổi nhiều. Tâm hồn chúng ta được nuôi nấng bởi mĩ học kiểu Nguyễn Bính: “Hôm qua em đi tỉnh về/ Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều”, để sáng tác thơ hôm nay vẫn cứ dính đầy “chất thơ” còn lưu lại từ các bậc tiền bối. Dường như mỗi phát sáng là một phát sáng ăn may, mỗi sáng tạo chỉ là những tai nạn hay rủi ro. Một va quẹt ngẫu nhiên, có thể nói thế.

Anh, chị, cả tôi cũng không khác.

Thơ tôi viết giữa chan hòa ánh điện

vọng hương vườn ngai ngái ánh trăng in

     (Đàm Chu Văn, Tiếng mùa, NXB Hội Nhà văn, H., 2003)

Người làm thơ bị mắc kẹt giữa hai làn sáng tối: ánh điện và ánh trăng. Đang giữa ánh điện rực sáng muôn vẻ muôn màu, không phải là không đẹp, không thích mắt, nhưng chỉ có ánh trăng mới tràn đầy thi tính, mới nên thơ. Nói như Nguyễn Trọng Tạo: “Không còn ánh trăng ngà cho thi sĩ làm thơ”. Tại sao phải có “ánh trăng ngà” thi sĩ mới làm được thơ?

Tà áo dài thì nên thơ, còn váy ngắn: không. Cũng thế: tóc dài/ tóc ngắn, thanh bạch/ giàu sang, yên tĩnh/ sôi động, cảm xúc/ lí trí, vân vân... Thơ thì phải “nên thơ”, thế thôi. Nghĩa là nó muốn thoát khỏi sự can thiệp của lí trí, của học tập trui luyện mang tính kĩ thuật. Nó chối bỏ sự nặng nhọc của khổ luyện (phong thái thi nhân xuất khẩu thành thơ gây hứng thú cho chúng ta hơn hình ảnh họ cặm cụi “nhị cú tam niên đắc”), tránh xa việc đặt vấn đề tư tưởng hay xã hội hóc búa, thậm chí nó cũng thiếu mặn mà trong tìm tòi cách thể hiện mình mới, lạ hơn.

Đó là thói quen thơ hình thành thuở ta còn ngồi ghế trung học; thói quen bị khuôn định bởi truyền thống không sẵn sàng cho động thái tác thi chuyên nghiệp. Thơ là thế, như thế mới gọi là thơ, mới nên thơ.

Mà chỉ có Việt Nam thôi đâu! Thử xem Roland Barthes xét thi ca Tây phương: “Vào các thời cổ điển, “có chất thơ” không hề hàm ý một tầm rộng, một chiều dày đặc biệt nào, một tình cảm, một mối liên kết, một thế giới riêng tư nào cả, mà chỉ là chuyển điệu một kĩ thuật ngôn từ, kĩ thuật “biểu đạt” theo những quy tắc đẹp đẽ hơn, (…) phát ra một lời nói được xã hội hóa do tính quy ước hiển nhiên của nó” (Độ không của lối viết, Nguyên Ngọc dịch, NXB Hội Nhà văn, 1998). Thế nhưng ở ngoài kia, tính quy ước hiển nhiên ấy bị các nhà thơ hiện đại Tây phương vượt bỏ từ lâu rồi.

Còn Việt Nam hôm nay, dù đã làm người phố thị vài chục năm, và tâm hồn ta cũng đã phố thị rồi nhưng, thi tứ cứ vướng bận không khí miền quê; các nhà thơ vô tư mang không khí ấy vào thơ, không vấn đề gì cả!: Ràng buộc cuối cùng với làng/Ngôi nhà và mảnh vườn/Cần chi nhờ người trông nom/Bán quách đi, ta là dân thành phố/Người ấy bước đi hăm hở/Phía trước là công ti/Là hợp đồng, tiệc tùng/Ai cần chi/Một mái nhà gianh/Một mảnh vườn tre gai và dứa dại…/Hơn hai chục năm sau trở lại/Tóc bạc gió thổi/Người ấy đứng chôn chân trước ngõ nhà xưa/ (…)/Không có quyền bước qua cánh đồng/Người ấy đứng lẩm bẩm:/– Ta vô tình đã bán mất quê hương! (Vương Trọng, “Người ấy”, báo Văn nghệ, số 32, 7-8-2004)

Sự hướng vọng miền quê, “trốn lo âu tìm lại cánh đồng” của Nguyễn Quang Thiều là có thật. Bán mảnh vườn hay ngôi nhà ở quê bị đồng hóa với “bán quê hương” là có thật. Có thể nói, phần đông nhà thơ Việt đương đại cảm nhận như thế, cả già lẫn trẻ, dân tộc số đông lẫn dân tộc thiểu số.

“Tên làng” của Y Phương được giải nhất cuộc thi thơ tạp chí Văn nghệ Quân đội 1983-1984. Bài thơ được xem như khởi đầu cho cuộc dấn thân văn chương của nhà thơ dân tộc Tày này. Anh, “người đàn ông ở làng Hiếu Lễ” đã gọi đầy yêu thương và kiêu hãnh tên làng Hiếu Lễ nơi anh sinh ra và lớn lên: “Ơi cái làng của mẹ sinh con”, “cái tên làng Hiếu Lễ của con”. Bài thơ nổi tiếng của nhà thơ tên tuổi đã được nhiều người bình và bàn, bàn vào chỉ làm rối rắm thêm bài thơ mà ý nghĩa đã phơi mở trọn vẹn. Điều muốn nhấn là, dường như bất kì nhà thơ dân tộc thiểu số nào cũng khởi đầu cuộc đi vào thế giới văn chương tiếng Việt - ngôn ngữ không phải tiếng mẹ đẻ của mình bằng khẳng nhận. Hiếm khi họ khẳng định cái tôi, mà là dân tộc tôi, làng tôi, đi cùng với làng là con sông hay ngọn núi quê tôi. Khẳng định cái tôi cá thể nếu có, cũng gắn liền với quê hương, làng bản. Nhà thơ đồng hóa mình với quê hương, với những gì thuộc về dân tộc. Như thể sợ mất bản sắc, hoặc quan trọng hơn, để tự tin bước vào thế giới xa lạ, rộng lớn ngoài kia.

Trong cách mà các cây bút thơ dân tộc thiểu số đồng hóa với quê hương, bản sắc, Dương Thuấn là người nhắc đến quê hương Bản Hon mình nhiều hơn cả, chắc chắn thế. Bản Hon với đất và người Bản Hon (“Bản Hon”), “Mùa xuân Bản Hon”, “Buổi sớm Bản Hon”, “Chiều Bản Hon”, “Tiếng buổi chiều Bản Hon”. Rồi tình cảm người Bản Hon dành cho lữ khách (“Anh về Bản Hon”). Đính kèm với làng Bản Hon là sông Năng quê anh. Từ đó, anh bước xuống đồng bằng, vào phố, ra biển: “Ta đi bộ từ núi xuống đồng bằng”, hay: “Sông mang lòng bản cao xuống biển” (Dương Thuấn, Ngày mai hoa không nở). Anh yêu quê hương, gọi tên quê hương, tắm nước sông quê hương. Rồi ra đi…

Lớn lên tắm nước sông

Mới thành người của làng

Đóng con tàu đi ra bể

Tắm giữa đại dương

Mới thành người của muôn nơi.

(Dương Thuấn, “Theo nước đi”)

Từ núi về thành, từ thành ra biển, nhưng không bao giờ mất gốc. “Em ơi, ta ở đâu/ Là bản ta ở đó” (“Ta ở đâu bản ta ở đó”). “Thành người của muôn nơi”, ước vọng của Dương Thuấn là vậy, khi anh rời quê nhà. Còn Y Phương, sau khi xuống phố và làm người phố thị, anh vẫn giữ hoài cảm thuở ban đầu - ở quê. Các bài thơ hay nhất của Y Phương giai đoạn sau vẫn là những ngoái lại: hồi tưởng kỉ niệm đẹp và tình người ấm áp hoặc ném cái nhìn phê phán về nỗi người hiện tại nơi làng quê yêu dấu. Trở lại bản quán, anh “Không hiểu vì sao cả làng bỏ đi đâu”, anh “Men theo đường chân người/ Giờ chỉ thấy những mảnh sành/ Vương vãi trên luống cày…” (“Làng hoang”).

Tôi đi trên nền làng xưa

Cúi nhặt vài mảnh vỡ

Rạn nâu

Lạnh tanh như dạ cụ cố

Đâu rồi làng một thuở…

(Y Phương, “Làng hoang”)

Nơi ấy:

Có con đường trâu bò vàng đen đi kìn kịt 

Có niềm vui lúa chín tràn trề 

Có tình yêu tan thành tiếng thác

(Y Phương, “Làng hoang”)

Phê phán với tâm cảm nuối tiếc. Đó là cảm thức cổ điển của người đàn ông làng Hiếu Lễ khi bước vào làng thơ ở thời kì đầu Đổi mới, khác khá nhiều với Dương Thuấn - đứa con Bản Hon - ở giai đoạn cuối thời kì này, mang hơi hướng cảm thức hiện đại.

 

Dẫu sao không phải tất cả nhà thơ Việt Nam đều nhớ tiếc, và muốn “về lại cánh đồng”. Sang thời hậu Đổi mới, họ đã khác rất nhiều, khác từ cảm thức cho đến cách biểu hiện. Ở đó ta thấy thơ Việt Nam làm cuộc chuyển động mạnh về hướng hiện đại và, hậu hiện đại. Trong đó có cả thơ của nhà thơ dân tộc thiểu số.

Nhà thơ nông dân Trần Wũ Khang quê Núi Xám – Nha Trang, đứa con hai dòng máu Cham Việt, từ bóng tối đã dũng mãnh bước lên thi đàn, khi văn học mạng đang nở rộ cũng đã mang cảm thức mới: cảm thức hậu hiện đại.

Khác với hầu hết nhà thơ dân tộc thiểu số trước đó, Trần Wũ Khang chưa một lần gọi tên làng quê, tên con sông quê hương hay bất kì cái gì khác mang đặc sản Cham để làm hành trang lên đường. Bước vào thế giới chữ nghĩa, anh đã là công dân toàn cầu. Thử lướt qua tên bài thơ trong tập thơ Quà tặng của quỷ sứ (2009): “Quà tặng của quỷ sứ”, “Cái chết của Dionysos hay bài thơ ăn theo”, “Thằng con hai dòng máu”, “Nỗi niềm phê bình”, “Thơ thiền trung du”, “Những mảnh đời vụn 1”, “Những mảnh đời vụn 2”, rồi “May mắn sinh, may mắn sống”, “Nỗi mơ khôn rời”, và “Đời mơ hồ 1”… cho đến “Đời mơ hồ 10”. Đó là tiếng thơ cắt đứt hoàn toàn với thiên nhiên, trời mây, sông nước. Sau Dostoievski, thật khó mà tìm được cảnh thiên nhiên trong văn chương châu Âu, - Albert Camus nói đại khái thế. Thơ Wũ là thơ đời, thơ của một cá thể hiện sinh ở plây, của bản thân anh cùng những vấn đề của riêng anh đối đáp với thế giới. Thơ, bằng ngôn từ đời thường, quá đời thường. Từ Núi Xám đi xuống phố, Trần Wũ Khang nhập cuộc thế sự và văn chương đương thời đầy tự tin.  Đó là lối “xuống phố” mạnh mẽ, tinh nghịch, và phản tỉnh đẫm chất hậu hiện đại. Khác cả vực thẳm với lối “xuống phố” của Bùi Tuyết Mai nhẹ nhàng “mùi hoa sữa”, “bóng chim xanh”, “bóng chú mèo” yểu điệu Lãng mạn của một thời xa lơ lắc.

Xuống phố, tâm hồn [và cả tư duy] của ta vẫn còn vướng kẹt. Ở quê. Đó là một thành kiến khác mà nhà thơ hôm nay chưa dứt ra được. Có lẽ nhà thơ, nói như Nguyễn Duy, chưa dám vứt bỏ cái đẹp rất nên thơ như dáng đòn gánh tạo hình vào trời chiều quê hương! Đẹp lắm bóng thiếu nữ Cham ngồi dưới ánh đèn dầu đưa thoi từng sợi tơ dệt tấm thổ cẩm. Nhưng người dân Chakleng đang cần rất nhiều thợ dệt lành nghề, nhà tạo mẫu giỏi, kẻ nghiên cứu cải tiến khung dệt, và trên hết – con người có khả năng tổ chức để nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng suất lao động hầu đưa thổ cẩm ra ngoài thị trường lớn hơn, từ đó thu nhập của bà con cao hơn, đời sống đỡ khốn khó hơn. Đẹp lắm dáng cô gái Bana gùi củi lội qua suối, vừa đi vừa hát nhẹ dù lưng áo đang ướt đẫm mồ hôi; sáng mai gùi củi kia sẽ được mang xuống chợ đổi lấy chục ngàn đồng bạc. Nhưng nét đẹp ấy cần phải mất đi càng sớm càng tốt!.Đẹp lắm tiếng “khèn”, lời “then” trong những đêm lễ hội dân gian ở vùng rừng núi dân tộc miền Tây Bắc. Nhưng sẽ đẹp hơn nhiều, nếu tiềm năng văn nghệ kia được tổ chức, bồi dưỡng, nâng cao (miễn đừng phản bản sắc hay giả bản sắc) để nó có thể mang niềm vui, vẻ đẹp nghệ thuật đến nhiều làng hơn nữa, biểu diễn trên nhiều sân khấu của các thành phố lớn hơn nữa, và – tại sao không? – chen vai thích cánh cùng hội, đoàn văn nghệ các nước trên thế giới.

Vân vân….

Lối nhìn nhà quê bằng con mắt mĩ học nông nghiệp cần phải được thay đổi. Vì nông thông Việt Nam đang chuyển đổi mạnh. Nó đang chịu một biến động lớn làm rung chuyển và thay đổi tất cả khía cạnh xã hội, nếp sống lẫn tâm thức con người. Nó đòi hỏi chúng ta có cái nhìn “động”, từ đó đưa thơ ca chuyển động về phía mới. Mãi lo khư khư ôm lấy kho bản sắc [cũ], nhà thơ đã tự cách li và cô lập mình với xung quanh. Cho nên, mặc dù đã làm dân phố chợ mấy chục năm rồi, ta vẫn còn dị ứng với các chất liệu ngôn ngữ của xã hội đô thị và công nghiệp. Những: cột đèn, thương xá, xa lộ, shop, nhà máy, xí nghiệp, nhà cao tầng, bar, cô thư kí, tờ ngân phiếu, email, cà phê cóc cứ không là gì cả với thi hứng chúng ta. Hiếm khi dời gót đi vào thơ chúng ta. Hay nếu có, cũng bị chúng ta nhìn bằng con mắt phân biệt đối xử. Như là mặt trái của xã hội, phản diện của cái đẹp. Trong lúc các sự thể ấy đã có mặt ở nông thôn từ hơn chục năm rồi. Và không ít thứ đã là ước mơ và hãnh diện của bà con nông dân. Còn thi sĩ chúng ta cứ thư thả lẽo đẽo theo sau cái đuôi của xã hội!

Nhưng tại sao cứ nhà quê mà không là thành phố? Cứ mộc mạc thanh bần mà không là phức tạp phồn hoa? Một em bé bán báo đất Sài Gòn quyết chịu cơ khổ dành dụm tiền gửi về quê nuôi em học không là tạo hình gây xúc động? Hay một doanh nhân toan tính với con số lạnh lùng hi vọng một ngày kia đạt giấc mơ triệu phú? Hoặc một kĩ sư đánh vật cùng bản vẽ mù mờ rối rắm mong hình thành cái giàn máy dệt giản đơn hơn, hiệu quả hơn thứ máy cổ truyền ngàn đời ì ạch?

Cả đất nước đang mơ giấc mơ dân giàu, nước mạnh. Nhà thơ cũng thế: về thành cho phỉ chí tang bồng, cho con cái về thành học, làm việc và ở lại. Giấc mơ thực của ta là thế, chẳng những không nên mặc cảm mất gốc mà còn khuyến khích, tăng cường.

Tại sao giấc mơ thơ cứ làm cái điều ngược lại?

 

                                                                                                          INRASARA

 

 

 

 

 

. . . . .
Loading the player...