01-01-2021 - 13:31

MẤY CẢM NHẬN BƯỚC ĐẦU VỀ THI TẬP “BÊN TRỜI”

Tạp chí Hồng Lĩnh số tháng 12/2020 xin trân trọng giới thiệu bài viết của Lê Quốc Hán về tập thơ "Bên trời" của nhà thơ Trần Thị Kim Hoa

mấy cảm nhận bước đầu  về thi tập “bên trời”

                              (Thơ Trần Kim Hoa, Nxb Hội nhà văn, năm 2020)                                                                                                                                         

1. Tính nữ trong thi tập “bên trời”

Nữ thi sĩ xinh đẹp đồng hương Trần Kim Hoa tặng tôi thi tập “bên trời” hơn tháng nay. Muốn viết vài cảm nhận nhưng không sao khởi được. Người xưa dạy “đầu đi đuôi lọt”. Không khởi được làm sao khơi dòng cảm xúc mình tuôn chảy.

Băn khoăn tự hỏi: Vì sao mỗi lần nhấc bàn phím lên tay mình như bị níu lại. Phải tiêu đề bài thơ “bên trời” rộng rinh, hồn mình không thể bay qua? Hay ý tưởng tập thơ quá xa vời, nhãn tuệ mình không với tới? Hay giá trị tập thơ được minh định bằng “Giải thưởng duy nhất về thơ của Hội nhà văn Việt Nam năm nay” làm mình choáng ngợp?

Để tâm hồn lắng lại một thời gian, lại giở “bên trời” ra đọc. Lần này đọc chậm rãi. Mỗi ngày chỉ một bài. Sáng ngủ dậy: đọc. Trưa và tối trước khi ngủ: đọc. Đến bài thứ mười chợt nhận ra: dù cách tân, hiện đại đến đâu, thơ nàng cũng rất gần gũi, thân thương. Bởi những bài thơ ấy rất giàu nữ tính. Chất nữ tính của một người thiếu nữ, thiếu phụ dù ra sống ở Thủ Đô dễ gần bốn chục năm rồi vẫn mang tâm hồn trong sáng, hồn nhiên của “gái quê”. Đang dạo Phố vẫn không trộn lẫn: và em bước xuống từ bức tranh huệ trắng/ áo dài thêu bông cỏ may. Hình ảnh trong thơ nàng luôn gợi nhớ quê kiểng: mảnh mai con đò chở gió/ …/ áo nâu dầu mưa nắng/ ngày cuối chợ, bữa mom sông (Phố), hay: tháng giêng năm ấy đêm rằm/ câu thơ soi bóng tơ tằm xênh xang/ … tháng giêng năm ấy, sân đình/ ta buông vạt áo đợi mình sang sông (Tháng giêng năm ấy). Dưới đôi mắt đen của nàng, mọi sự vật, cảnh vật thiên niên đều bị “nữ tính hóa”: Hàng Đào đỏ bừng đôi má/ Hàng Lược chải mái tóc mây/ …/ Phù sa như làn da mịn/ …/ lúa dậy thì một sớm mai (Vẫn sớm mai này). Chất nữ tính trong thơ nàng đậm đặc đến nỗi trong mười bài thơ đầu tiên của thi tập, không bài nào không xuất hiện những hình ảnh về người đẹp, ít nữa cũng là những vật dụng trang sức của phái đẹp: một tà áo, một dải khăn choàng vai, một ánh nhìn thương mến: Hà Nội gió mùa đông bắc/ những con phố phong phanh/ ta và em như khăn mỏng/…/ Những ngày thu cuối cùng phập phù trên cây bàng lá đỏ/ như tấm áo phù dung/ sắp tuột khỏi bờ vai thiếu phụ.. (Gió mùa đông bắc), hay: cành sen ướp gió Tây Hồ/ vuông lụa người xinh dệt lúc sang canh// cửa ô trầm ngâm choàng khăn rêu cũ (Bờ vai nghìn năm thương nhớ), hay: Hà Nội đầu thế kỷ hai mốt/ như người đẹp bước ra từ tiệm làm đầu/ tóc nhiều màu song mắt cứ là đen (Có thể ngày mai)…Điều đáng quý là dẫu sống trong nhịp sống hối hả của đô thành, dẫu dạt dào hạnh phúc trong tình yêu và thành đạt trong sự nghiệp, nàng vẫn luôn thương nhớ mẹ già, người thân, luôn gìn giữ nâng niu những kỷ niệm thuở thiếu thời: mẹ ngồi đan áo/ tờ thư năm cũ úa vàng (Phố), hay: Hà Nội không màng phấn son/ hàng cây tưng bừng đến hẹn/ kỷ niệm chất đầy trong tim (Có thể ngày mai).

2. Trong gạo trắng có khúc đồng dao

Đó là tên một bài thơ trong thi tập, đọc chầm chậm và suy ngẫm, sẽ thấy sau những câu chữ tưởng chừng đơn giản ấy là tình yêu quê hương, đất nước tha thiết của người thơ. Nàng đi ra khỏi tuổi thơ mình, nhưng không bao giờ quên hạt gạo thơm trên tay đã nuôi lớn mình nên người.

Tình yêu ấy bắt nguồn từ tình yêu những người thân yêu ruột thịt một đời vất vả vật lộn với thiên tai để nuôi sống gia đình. Hình ảnh mẹ đong mưa bằng mo cau sũng nước/ cha lưng trần co kéo chiều giông/ nếp nhăn trên mặt cha/ chỉ giãn ra khi người nằm xuống/ bàn tay cha sần/ đã theo cha đi mãi (Đêm bao giọt lệ) hẳn đã đi suốt cuộc đời người thơ, để nàng hiểu được cái giá của hạt gạo quê nhà: Lẫn trong gạo trắng có đôi hạt vụng về (Trong gạo trắng có khúc đồng dao). Tình yêu ấy bén rễ và lớn dần với làng quê lam lũ đói nghèo bươn bả mưu sinh: hạn hán đeo đẳng cánh đồng/ mưa làm mềm lòng đất/ làng vẫn nón mê bươn bả/ sân gạch nhói đau mỗi độ bão về (Đêm bao giọt lệ). Nhưng nếu tuổi thơ chỉ chứng kiến những nỗi vất vả ấy, những nỗi lo suốt tháng năm mưu sinh ấy, hẳn sau này những vần thơ nàng không thể bay cao, bay xa. Quê hương ấy, những người thân yêu ruột thịt ấy còn sớm gieo vào tâm hồn nàng những khúc đồng dao đáng yêu: Lẫn trong gạo trắng có khúc đồng dao lũ trẻ chăn trâu để quên một đêm trăng sớm; những khát khao hy vọng, những câu chuyện cổ tích đẹp như mơ: lối cổ tích êm như bông ấm như nắng/ Nhà và Gạo đi tìm tình yêu. Dẫu bao nhiêu vất vả gian nan: Nhà và Gạo lội qua ba khúc sông trong vắt/ vượt qua chín mươi chín đỉnh núi mây mù (Cổ tích) nhưng chắc chắn sẽ dẫn đôi trẻ đến bến hạnh phúc. Để sau này, “Từ ngõ nhỏ ra đường lớn”, người thơ đặt chân lên bao miền đất của Tổ quốc Việt Nam tươi đẹp và kiêu hùng. Người thơ theo câu hát tới  Sín Suối Hồ gặp những em váy thêu, má đỏ/ bẽn lẽn rượu mời để vãng lai, hớn hở/ một lần say trong đời (Một lần Sín Suối Hồ). Người thơ “Trở lại Bản Lác” bồi hồi trước cảnh giấc mơ thổ cẩm lưu lạc  phương trời nào, để sống lại những ngày hạt gạo dẻo thơm dỗ dành ta bữa cơm trưa chan gió đồng/ những lưỡi hái, cung tên, khèn Thái xếp hàng mời mọc. Người thơ dừng chân bên bến Bạch Đằng Giang, nơi viết lên bao trang sử chống ngoại xâm oai hùng của dân tộc, để có cuộc sống thanh bình tươi đẹp hôm nay: Bạch Đằng Giang sử sách/ giờ hiền như câu thơ (Thanh gươm và dải lụa). Người mải mê đi miết, từ Cao Bằng nghiêng, sông Bằng xuôi, qua Đông Hà chứa chan mưa nắng/ Non Nước tạc vào thiên thu, đến Phú Quốc sóng dựng ngang trời/ Đất mũi bàn chân mở đất (Tôi đi). Tầm nhìn của người ngày một cao lên, và những vần thơ của người cũng lớn lên, vạm vỡ lên.

3. Mười hai tháng hợp rồi tan – lẽ thường

Tưởng như câu thơ ấy trong bài thơ “Tầm xuân đã trổ lối hướng” hé mở cho độc giả rằng người thơ đã “ngộ” ra quy luật thời gian như một dòng sông trôi chảy về vô định không bao giờ ngược nguồn, như câu nói của người xưa “không ai tắm hai lần trên dòng sông thời gian”. Và người thơ không còn băn khoăn, nuối tiếc về sự chảy trôi ấy. Nhưng không, cái quy luật “Mười hai tháng hợp rồi tan – lẽ thường” ấy đã lật đi lại trong từng câu thơ, bài thơ của thi tập “bên trời”. Thời gian ở đây không tuyến tính, nó xoắn lại thành vòng tròn, ngày một thít chặt hơn. Trong những thời khắc giao mùa, thời gian được thắt lại, rồi mở ra thổn thức trái tim đa cảm của người thơ. Mùa Xuân không được vẽ lên từ Tháng giêng, khi chồi non nẩy nở, chim hót líu lô. Người thơ chỉ dừng lại ở Tháng ba,khi mùa xuân sắp hết nhưng chưa nỡ chia tay: tháng ba chưa dời bước/ ngày xuân còn quanh đây…. Trong thi tập, Tháng ba không chỉ xuất hiện một lần mà những ba lần: với những niềm tiin, những hy vọng mong manh khi ngày hè đến: còn lại tháng ba/ mặt trời tự mình dập tắt đám cháy (Còn lại tháng ba); tháng ba dù sông cạn/ tháng ba dẫu đá mòn/ ngày vẫn cài lên tóc/ sợi gió xanh mơ màng/ đêm vẫn lưu khóe mắt/ giọt sương rơi nồng nàn (Tháng ba chưa dời bước); tháng ba dắt cơn mưa về/ đong đưa câu hát/ …/ môi hồng má thắm/ khắp trời tháng ba (Khắp trời tháng ba). Tháng mười hai, tháng chạp khép lại một năm cũng được lặp đi lặp lại với những hao khuyết, mỏi mòn: “Tháng chạp kiệm lời”, “Tháng mười hai hao khuyết của tôi”….Còn mùa thu, mùa đẹp nhất và cũng buồn nhất trong năm, với trời xanh mây trắng, với lá úa tàn phai rồi rơi rụng, được khắc họa sâu đậm trong nhiều bài thơ: “Thu”, “Thu về muôn một”, “Trước bến đò mùa thu”, “Những tháng mười dọc lối thu đi”,…Nhưng đến được mùa thu đâu có dễ: người đến được mùa thu/ đã xa vời mây trắng (Đến được mùa thu thì đã xa vời), và dù có đến được bến thu thì “Thu đã hóa thiên thu” rồi. Bởi vậy, thời gian trong “bên trời” không chỉ (phải) là thời gian vật lý, mà chính yếu hơn là thời gian của tâm hồn thi nhân. Điều này cũng dễ hiểu khi những bài thơ trong “bên trời” được tác giả sáng tác trong “mùa thu đời mình”, quãng đời đẹp nhất nhưng cũng nhiều âu lo nhất của một con người.

4. Một tôi ngọn nến hao gầy, một trang sách mỏng chất đầy chiêm bao

Người ta thường nói, thi sĩ nào chẳng cô đơn. Nữ thi sĩ cô đơn gấp bội. Hình như không cô đơn họ không cất lên được tiếng hót, hoặc dẫu cất lên tiếng hót ấy cũng rời rạc, buồn tẻ. Cô đơn như một thức ăn đặc biệt nuôi dưỡng sinh khí hồn thơ.

Tác giả “bên trời” không ngoại lệ. Thơ người tràn ngập tình yêu quê hương đất nước, lạc quan yêu đời trước cuộc sống mỗi người đang sáng lên mỗi ngày. Người đã “ngộ” ra quy luật trôi chảy của thời gian từ vô thủy đến vô chung. Nhưng có những thời khắc, người không giấu được sự cô đơn lẻ chiếc của mình: một tôi với một tôi thôi/ xanh cao thì gió chảy trôi thì bờ/ bốn bề ngút cỏ dại khờ/ ngả nghiêng bão tới mịt mờ giông qua. Đôi khi, những câu thơ người vui buồn trộn lẫn: một tôi vui đến thiết tha/ một tôi buồn tựa sương sa bến chiều/ một tôi sợi khói xanh rêu/ ngõ xa xôi lối phiêu diêu tơ mành…(Một tôi). Biết bao đêm trường, người thơ trằn trọc trước cảm giác: những con đường ta đi ngày một dài thêm/ bậc thềm cũ bao lần rêu mọc lại, để người phải gối cúc hằng đêm đợi sáng…(Gối cúc). Người không khỏi băn khoăn: ta như dấu chấm rớt xuống đời ai đó/ ai đó như dấu chấm than rớt xuống đời ta… (Dấu chấm và dấu than). Nhưng những phút giây kia sớm tan trong phút chốc. Người thơ vẫn vững bước trên con đường mùa thu, đến một trời nắng gió/ một trời xanh mây. Trong hành trình về tương lai, người có bao nhiêu bạn đồng hành: người đi muôn lối/ người còn đâu đây. Để đến một ngày không gió/ một ngày trôi êm (Tháng mười). Để đến một ngày gặp lại giấc mơ tuổi thơ tươi đẹp của người: giấc mơ thuở nào nhen lên/ vành nôi thuở nào à ơi/ á ơi/ nắng/ vắng

Phải chăng tất cả những thành công của “bên trời” do người thơ đã kết hợp nhuần nhuyễn bút pháp cách tân hiện đại và truyền thống?

                  Lê Quốc Hán

. . . . .
Loading the player...